Diễn Đàn Phật Giáo

Go Back   Diễn Đàn Phật Giáo BAN QUẢN TRỊ PHẬT GIÁO VIỆT NAM NET LIÊN TÔNG TỊNH ĐỘ NON BỒNG

LIÊN TÔNG TỊNH ĐỘ NON BỒNG Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng- Quan Âm Tu Viện- K2/77, Đường Nguyễn Ái Quốc, Khu phố 3, Phường Bửu Hòa, Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai

Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời  
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 05-10-2010, 07:26 AM
que huong's Avatar
que huong que huong is offline
Very Important Person
 

Tên Thật: phổ đà sơn
Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gởi: 2,646
Thanks: 1
Thanked 132 Times in 82 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 0 tổng số
Tín Ngưỡng & Tôn Giáo Tại Việt Nam

GIÁO TRÌNH NĂM LỚP CAO ĐẲNG
CHUYÊN KHOA PHẬT HỌC TỈNH ĐỒNG NAI
NĂM THỨ NHẤT
Biên sọan:
HT Thích Giác Quang &
Thầy Hồ Trường Giang

PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH
Trang
CHƯƠNG I: TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM
BÀI 1: ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM 7
BÀI 2: PHÂN LOẠI TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM 8
1. Tín ngưỡng phồn thực
2. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên 9
3. Tín ngưỡng sùng bái con người 10
BÀI 3: NHỮNG TÍN NGƯỠNG TIÊU BIỂU KHÁC 15
I. Bà Chúa Sứ
II. Múa lân sư rồng 17
1. Múa lân
2. Múa sư tử 18
3. Múa rồng
III. Địa Ông Tà: 19
IV. Địa Bà Nàng: 20
V. Lễ cúng Thần Lúa của người Châu-Ro (Lễ Sa Yang-va) 22
VI. Lễ cúng Yang Koi của Người mạ. 24
VII. Lễ cúng Lơh-Yang-Rơ của người Kơho 26
VIII. Tố (Hồ Bà Lam) 28
IX. Đình Tân Lân – Trần Thượng Xuyên 289
1. Đình Tân Lân
2. Trần Thượng Xuyên 31
X. Nguyễn Hữu Cảnh 34

CHƯƠNG II: TÔN GIÁO
01. Nhập môn tôn giáo học (tiết 1) 35
02. Nhập môn tôn giáo học (tiết 2) 36
03. Nhập môn tôn giáo học (tiết 3) 37
04. Nhập môn tôn giáo học (tiết 4) 38
05. Nhập môn tôn giáo học (tiết 5) 40
06. Lịch sử hình thành tôn giáo và một số hình thức tôn giáo (tiết 6) 41
07. Lịch sử hình thành tôn giáo và một số hình thức tôn giáo (tiết 7) 43
08. Chức năng của tôn giáo. Tình hình, diễn biến
và xu thế đời sống tôn giáo trên thế giới (tiết 8) 45
09. Chức năng của tôn giáo. Tình hình, diễn biến
và xu thế đời sống tôn giáo trên thế giới (tiết 9) 46
10. Chức năng của tôn giáo. Tình hình, diễn biến
và xu thế đời sống tôn giáo trên thế giới (tiết 10) 47
11. Những yếu tố cấu thành tôn giáo (tiết 11) 49
12. Những yếu tố cấu thành tôn giáo (tiết 12) 50
13.Huyền thoại và triết lý (tiết 13) 51
14. Thế giới bên kia (tiết 14) 52
15. Các hành vi tôn giáo (tiết 15) 53
16. Các hành vi tôn giáo (tiết 16) 54
17. Các hành vi tôn giáo (tiết 17) 55
18. Tổ chức tôn giáo (tiết 18) 56
19. Tổ chức tôn giáo (tiết 19) 57
20. Tổ chức tôn giáo (tiết 20) 58
21. Khổng giáo (tiết 21) 59
22. Lão giáo (tiết 22) 60
23. Hỏa giáo (tiết 23) 61
24. Đạo Baha’i (tiết 24) 62
25. Do thái giáo (tiết 25) 63
26. Thiên chúa giáo (tiết 26) 64
27. Tin lành (tiết 27) 65
28. Hồi giáo (tiết 28) 66
29. Cao Đài (tiết 29) 67
30. Hòa hảo (tiết 30) 68
31. Nam tông (tiết 31) 69
32. Nam tông Khmer (tiết 32) 70
33. Khất sĩ (tiết 33) 71
34. Phật giáo Bắc tông (tiết 34) 72
35. Tịnh Độ tông (tiết 35, 36, 37, 38) 73
36. Thiên Thai Giáo Quán tông (tiết 39) 78
37. Tịnh Độ cư sĩ (tiết 40) 79
38. Lục Hòa Tăng (tiết 41) 81
39. Thiền tông (tiết 42) 82
40. Mật tông (tiết 43) 83
41. Gia đình Phật tử (tiết 44) 84
42. Bửu Sơn Kỳ Hương (tiết 45) 85
43. Cư sĩ Lâm (tiết 46) 86
44. Hội phật học (tiết 47) 87
Hướng dẫn điền giã (tiết 48) 88
Bài thu hoạch (tiết 49)
Ôn tập (tiết 50)
Kiểm tra (tiết 51)
Ôn tập kết thúc môn (tiết 52)
Thi kết thúc môn (tiết 53)


CHƯƠNG I
TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM

BÀI 1:
ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM

Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 1)
Tín ngưỡng Việt Nam giống như các bộ phận khác của văn hóa Việt Nam đều mang những đặc trưng của văn hóa nông nghiệp. Dưới đây là những ý nghĩa:
• Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên: thể hiện ở tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
• Hài hòa âm dương: thể hiện ở các đối tượng thờ cúng: Trời-Đất, Tiên-Rồng, ông đồng-bà đồng,…
• Đề cao phụ nữ: thể hiện ở rất nhiều nữ thần như các Mẫu Tam phủ (Bà Trời,Đất, Nước), Mẫu Tứ phủ (Bà Mây,Mưa,Sấm,Chớp),…
• Tính tổng hợp và linh hoạt và hệ quả là tôn giáo đa thần chứ không phải độc thần như trong nhiều tôn giáo khác.

Củng cố
Dặn dò


BÀI 2:
PHÂN LOẠI TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 2)
1. Tín ngưỡng phồn thực
Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằng nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy nở. Để làm được hai điều trên, những trí tuệ sắc sảo sẽ tìm các quy luật khoa học để lý giải hiện thực và họ đã xây dựng được triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình dân thì xây dựng tín ngưỡng phồn thực (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là nảy nở). Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam được thể hiện ở hai dạng: thờ cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ và thờ hành vi giao phối, khác biệt với một số nền văn hóa khác như Ấn Độ chẳng hạn, chỉ thờ sinh thực khí của nam mà thôi.
a. Thờ cơ sinh thực khí, Thờ hành vi giao phối
 Thờ cơ sinh thực khí:
Thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ) là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực. Nó phổ biến ở hầu hết các nền văn hóa nông nghiệp trên thế giới. Nhưng khác với hầu hết các nền văn hóa khác là chỉ thời sinh thực khí nam, tín ngưỡng phồn thực Việt Nam thờ sinh thực khí của nam lẫn nữ. Việc thờ sinh thực khí được tìm thấy ở trên các cột đá có niên đại hàng ngàn năm trước Công nguyên. Các sinh thực khí còn được thấy rất nhiều ở thánh địa Mỹ Sơn vẫn còn nguyên dạng đến ngày nay. Ngoài ra nó còn được đưa vào các lễ hội, lễ hội ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước cặp sinh thực khí bằng gỗ vào ngày 6 tháng giêng, sau đó chúng được đốt đi, lấy tro than chia cho mọi người để lấy may.
 Thờ hành vi giao phối:
Ngoài việc thờ sinh thực khí, tín ngưỡng Việt Nam còn thờ hành vi giao phối, đó là một đặc điểm thể hiện việc chú trọng đến các mối quan hệ của văn hóa nông nghiệp, nó đặc biệt phổ biến ở vùng Đông Nam Á. Các hình nam nữ đang giao phối được khắc trên mặt trống đồng tìm được ở làng Đào Thịnh (Yên Bái), có niên đại 500 trước Công nguyên. Ngoài hình tượng người, cả các loài động vật như cá sấu, gà, cóc,… cũng được khắc trên mặt trống đồng Hoàng Hạ (Hòa Bình).
Vào dịp hội đền Hùng, vùng đất tổ lưu truyền điệu múa “tùng dí”, thanh niên nam nữ cầm trong tay các vật biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ, cứ mối tiếng trống “tùng” thì họ lại “dí” hai vật đó lại với nhau. Phong tục “giã cối đón dâu” cũng là một biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực, chày và cối là biểu tượng cho sinh thực khí nam và nữ. Ngoài ra một số nơi còn vừa giã cối (rỗng) vừa hát giao duyên.
b. Trống đồng – biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực:
Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức ngay cả chiếc trống đồng, một biểu tượng sức mạnh của quyền lực, cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực:
• Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo
• Cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống mô phỏng động tác giã gạo
• Tâm mặt trống là hình Mặt Trời biểu trưng cho sinh thực khí nam, xung quanh là hình lá có khe rãnh ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ
• Xung quanh mặt trống đồng có gắn tượng cóc, một biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực (xem thêm Con cóc là cậu ông trời)
Củng cố
Dặn dò

BÀI 2:
PHÂN LOẠI TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM (TT)
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 3)
2. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Do là một đất nước nông nghiệp nên việc sùng bái tự nhiên là điều đễ hiểu. Điều đặc biệt của tín ngưỡng Việt Nam là một tín ngưỡng đa thần và âm tính (trọng tình cảm, trọng nữ giới). Có giả thuyết cho rằng đó là do ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ thời xưa tại Việt Nam. Các vị thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới, do ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực như đã nói ở trên nên các vị thần đó không phải là các cô gái trẻ đẹp như trong một số tôn giáo, tín ngưỡng khác mà là các bà mẹ, các Mẫu. (Xem thêm Đạo Mẫu).
c. Thờ Tam phủ, Tứ phủ
Tam phủ là danh từ để chỉ ba vị thánh thần: Bà Trời (hay Mẫu Thượng Thiên), Bà Chúa Thượng (hay Mẫu Thượng Ngàn), Bà Nước (hay Mẫu Thoải). Tứ phủ gồm ba vị Mẫu trên cộng thêm Mẫu Địa phủ. Các Mẫu cai quản những lĩnh vực quan trọng nhất của một xã hội nông nghiệp. Về sau do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nên có thêm Ngọc Hoàng, Thổ Công và Hà Bá. Thần Mặt Trời là vị thần quan trọng nhất, có mặt trên tất cả các trống đồng. Việc thờ trời ở Việt Nam có trước ở Trung Quốc.
d. Thờ Tứ pháp
Tứ pháp là danh từ để chỉ các bà thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp. Sau này khi Phật giáo vào Việt Nam thì nhóm các nữ thần này được biến thành Tứ pháp với truyền thuyết về Man Nương Phật Mẫu. Tứ pháp gồm:
• Pháp Vân (thần mây) thờ ở chùa Bà Dâu
• Pháp Vũ (thần mưa) thờ ở chùa Bà Đậu
• Pháp Lôi (thần sấm) thờ ở chùa Bà Tướng
• Pháp Điện (thần chớp) thờ ở chùa Bà Dàn
Ảnh hưởng của Tứ Pháp ở Việt Nam rất lớn, nhiều lần triều đình nhà Lý phải rước tượng Pháp Vân về Thăng Long để cầu mưa.
e. Thờ động vật và thực vật
Khác với văn hóa phương tây là thờ các con vật có sức mạnh như hổ, sư tử, chim ưng,… tín ngưỡng Việt Nam thờ các con vật hiền lành hơn như trâu, cóc, chim, rắn, cá sấu,… các con vật đó gần gũi với cuộc sống của người dân của một xã hội nông nghiệp. Người dân còn đẩy các con vật lên thành mức biểu trưng như Tiên, Rồng. Theo truyền thuyết thì tổ tiên người Việt thuộc “họ Hồng Bàng” (có nghĩa là một loài chim nước lớn), thuộc giống “Rồng Tiên”. Con rồng lần đầu tiên xuất hiện ở vùng Nam Á, sau đó mới được phổ biến ở Trung Quốc rồi đến các nước phương tây. Con rồng có đầy đủ đặc tính của lối tư duy nông nghiệp: tổng hợp của cá sấu, rắn; sinh ra ở dưới nước nhưng lại có thể bay lên trời mà không cần cánh; có thể vừa phun nước vừa phun lửa. Có rất nhiều địa danh Việt Nam có tên liên quan đến rồng như Thăng Long, Hàm Rồng,…
Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa,… đôi khi ta thấy còn thờ Thần Cây Đa, Cây Cau, …
Củng cố
Dặn dò

BÀI 2:
PHÂN LOẠI TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM (TT)
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 4)
3. Tín ngưỡng sùng bái con người
Ngoài phồn thực, tự nhiên, tín ngưỡng Việt Nam rất coi trọng con người.
a. Hồn và vía
Người Việt xưa cho rằng con người gồm phần thể xác và phần linh hồn. Một số dân tộc Đông Nam Á coi linh hồn gồm "hồn" và "vía". Vía được hình dung như phần trung gian giữa thể xác và hồn. Người Việt cho rằng người có ba hồn, nam có bảy vía và nữ có chín vía. Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự sống). Bảy vía ở đàn ông cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng. Chín vía ở nữ giới cai quản bảy thứ như ở nam giới cộng thêm hai vía nữa. Hai vía này có nhiều cách giải thích. Chúng có thể là núm vú có vai trò quan trọng trong nuôi con. Tuy nhiên có cách giải thích khác (xem thêm chín vía). Người Việt thường có câu nói nam có "ba hồn bảy vía" còn nữ có "ba hồn chín vía", cũng là từ các quan niệm trên mà ra.
Hồn và vía dùng thể xác làm nơi trú ngụ, trường hợp hôn mê ở các mức độ khác nhau được giải thích là vía và hồn rời bỏ thể xác ở các mức độ khác nhau. Nếu phần thần của hồn mà rời khỏi thể xác thì người đó chết. Khi người chết, hồn nhẹ hơn sẽ bay sang kiếp khác còn vía nặng hơn sẽ bay là là mặt đất rồi tiêu tan. Thế nên mới có những câu ngạn ngữ như: "hồn xiêu phách lạc" (phách tức là vía; ở đây muốn nói trạng thái run sợ, mất chủ động), "sợ đến mức hồn vía lên mây"...
Khi chết là hồn đi từ cõi dương gian đến cõi âm ty, cõi đó cũng được tưởng tượng có nhiều sông nước như ở cõi dương gian nên cần phải đi bằng thuyền nên nhiều nơi chôn người chết trong những chiếc thuyền.
b. Tổ tiên
Người Việt là một trong những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất, nó gần như trở thành một tôn giáo: Đạo ông bà.
Thà đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn sáng mắt cha ông không thờ.
(Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên)
Người phương tây coi trọng ngày sinh thì người Việt coi trọng ngày mất. Họ cho rằng người đã mất đi về nơi chín suối. Bàn thờ tổ bao giờ cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất. Ngày xưa khi cúng lễ bao giờ cũng có nước (hoặc rượu) cùng với những đồ tế lễ khác như vàng mã. Sau khi cúng xong thì đem đốt vàng mã rồi đổ rượu hoặc nước lên đống tro tàn -- khói bay lên trời, nước hòa với lửa thấm xuống đất -- theo họ như thế tổ tiên mới nhận được. Hành động đó được cho là sự hòa quyện Nước-Lửa (âm dương) và Trời-Đất-Nước (tam tài) mang tính triết lý sâu sắc.
c. Thổ công
Thổ Công là một vị thần được thờ trong gia đình, một dạng của Mẹ Đất, là vị thần trông coi nhà cửa, định đoạt họa phúc cho một gia đình. Sống ở đâu thì có Thổ Công ở đó: "Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá". Một số giả thuyết cho rằng Thổ Công là một trong ba vị Táo Quân xuất hiện trong truyện sự tích Táo Quân (hay Sự tích ba ông đầu rau). Người chồng mới là Thổ Công (trông coi việc bếp núc, còn gọi là "vua bếp"), người chồng cũ là Thổ Địa (trông coi việc nhà cửa), người vợ là Thổ Kỳ (trông coi việc mua bán). Tuy nhiên, một số người cho rằng Thổ Công là vị thần cai quản vùng đất còn Táo Quân chỉ coi việc bếp núc trong nhà.
Thổ Công được nhiều người tin là vị thần quan trọng nhất trong gia đình. Tổ tiên có công sinh thành dưỡng dục nên được tôn vinh nhất. Bàn thờ tổ tiên ở giữa, vị trí quan trọng nhất, bàn thờ Thổ Công ở bên trái, quan trọng thứ hai. Nhưng khi cúng lễ tổ tiên, người ta đều phải khấn Thổ Công trước để xin phép cho tổ tiên về.
Ở Nam bộ, Thổ Công được thay bằng Ông Địa và thờ ở dưới đất (đất phải về với đất), nhiều nơi còn gọi Ông Địa là Thần Tài (mọi thứ đều từ đất mà ra).

Củng cố
Dặn dò


BÀI 2:
PHÂN LOẠI TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM (TT)
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 5)
3. Tín ngưỡng sùng bái con người(TT)
d. Thành hoàng làng
Ở phạm vi gia đình, người Việt thờ tổ tiên và Thổ Công, ở phạm vi làng xã, người Việt thờ Thành hoàng. Giống như Thổ công, Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng. Không có làng nào ở Việt Nam mà không có Thành hoàng.
Những người được thờ thường là những người có tên tuổi và địa vị, có công lao đối với làng đó. Tuy nhiên một số làng còn thờ những người lý lịch không "hay ho" gì như trẻ con, ăn xin, ăn mày,trộm cắp... nhưng họ chết vào "giờ thiêng".
e. Vua tổ
Ở phạm vi quốc gia, người Việt thờ Vua tổ, đó là Vua Hùng. Nơi thờ phụng ở Phong Châu, Phú Thọ. Ngày giỗ tổ là ngày 10 tháng 3 âm lịch.
f. Tứ bất tử
Người Việt còn thờ bốn vị thánh bất tử, đó là Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh.
 Tản Viên, còn gọi là Sơn Tinh, là vị thần cai quản dãy núi Ba Vì (núi Tản Viên), một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt (tứ bất tử). Các sự tích, truyền thuyết về Đức thánh Tản (đặc biệt là truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh), thể hiện khát vọng làm chủ thiên nhiên của người Việt, mở đất, dựng nước.
 Thánh Gióng hay gọi là Phù Đổng Thiên Vương hay Xung Thiên Thần Vương, là một trong bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam (tứ bất tử). Người có công dẹp giặc Ân đem lại thái bình cho đất nước.
Truyền thuyết kể rằng: Ông sinh ra tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội, thời vua Hùng thứ 6. Thánh Gióng là người "trời" đầu thai làm đứa trẻ tuy lên ba mà không biết nói cười, đi đứng. Nhưng khi có bộ tộc khác (truyền thuyết ghi là giặc Ân) tràn xuống thì cất tiếng gọi mẹ nhờ ra gọi sứ giả của nhà vua, rồi bỗng chốc vươn vai thành một thanh niên cường tráng đi đánh giặc. Sau khi đánh tan giặc Ân, ông bay về trời. Nơi ông hóa chính là núi Sóc thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
Trong trận chiến với nhà Ân Thánh Gióng cùng chiến đấu với Thánh Hùng Linh Công, cả hai cùng hợp binh lại đánh một trận quyết định ở chân núi An Vũ Ninh Sơn. Hùng Linh Công là cháu ruột Vua Hùng, một danh tướng thuộc đời Hùng Vương thứ sáu (1718 - 1631 TCN), ông được vua trao cho kim đao và 3 vạn binh mã đi tiên phong cùng với Thánh Gióng đánh tan giặc Ân. Ông được vua Hùng giao cho cai quản xứ Kinh Bắc, ông cũng có công trừ hổ để giữ cuộc sống an bình cho dân. Ông sinh ra và mất trên đất Hiệp Hòa, Bắc Giang và được thờ ở Đền IA khoảng 3700 năm nay. Trong "Trường thiên đối liên" (mỗi vế đối có 71 chữ Hán) còn lưu lại ở Đến IA có câu nêu công đức của hai Thánh
... Diệt quốc cừu, điện quốc cơ, trùng tiêu quốc xí
Đương ư sóc phong liệt tướng
Thành sở vị: giang nam nhất nhân, giang bắc nhất nhân,
dịch nghĩa:
... Diệt giặc nước, xây móng nền, dựng cờ tổ quốc
Cùng trang liệt tiếng Sóc Sơn
Thành truyền thuyết: phía Nam sông Tướng giỏi, phía Bắc sông Người tài
(tức là phía Nam sông Cầu có tướng giỏi là Thánh Gióng, phía Bắc sông Cầu có người tài là Hùng Linh Công)
Hội đền Gióng được tổ chức long trọng tại hai nơi: Đền Phù Đổng, xã Phù Đổng huyện Gia Lâm, Hà Nội và núi Sóc huyện Sóc Sơn, Hà Nội vào ngày mồng 9 tháng Tư âm lịch. Phong giao Kinh Bắc xưa có câu: "Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu cũng kéo về xem hội Gióng".
 Chử Đồng Tử là tên của một vị thánh nổi tiếng, một trong "Tứ bất tử" trong tín ngưỡng Việt Nam.Truyền thuyết về Tiên Dung-Chử Đồng Tử là một trong những huyền sử được ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái kể về thời kì cổ xưa của nước Việt Nam.
+ Truyền Thuyết
Tương truyền Chử Đồng Tử sống cùng cha là Chử Cù Vân tại Chử Xá (huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (có bản viết là Chử Vi Vân. Theo "Việt sử Giai Thọai" của Nguyễn Khắc Thuần - NXB Giáo dục). Chẳng may nhà cháy, mất hết của cải, hai cha con chỉ còn lại một chiếc khố phải thay nhau mà mặc. Lúc người cha lâm chung, ông gọi con lại bảo rằng hãy giữ chiếc khố lại cho bản thân. Thương cha nên Chử Đồng Tử liệm khố theo cha, mình thì chịu cảnh trần truồng khổ sở, kiếm sống bằng cách ban đêm câu cá, ban ngày dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền bán cá hoặc xin ăn.
Thời ấy vua Hùng Vương thứ ba có cô con gái tên là Tiên Dung đến tuổi cập kê mà vẫn chỉ thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Một hôm thuyền rồng của công chúa đến thăm vùng đó. Nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, người hầu tấp nập, Chử Đồng Tử hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh. Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi rồi sai người quây màn ở bụi lau để tắm, ngờ đâu đúng ngay chỗ của Chử Đồng Tử. Nước xối dần để lộ thân hình Chử Đồng Tử dưới cát. Tiên Dung kinh ngạc bèn hỏi han sự tình, nghĩ ngợi rồi xin được cùng nên duyên vợ chồng.
Vua Hùng nghe chuyện thì giận dữ vô cùng, không cho Tiên Dung về cung. Nàng biết ý nên cùng chồng mở chợ Hà Thám, đổi chác với dân gian. Buôn bán tấp nập, phồn thịnh, ai cũng kính thờ Tiên Dung-Chử Đồng Tử làm chúa (Theo "Việt sử Giai Thọai" của Nguyễn Khắc Thuần-NXB Giáo dục). Một hôm có người bày cho cách ra ngòai buôn bán nhiều lãi, Tiên Dung khuyên chồng nghe theo. Chử Đồng Tử bèn theo khách buôn đi khắp ngược xuôi. Một hôm qua ngọn núi giữa biển tên Quỳnh Tiên (có bản ghi là Quỳnh Vi - tham khảo "Việt sử Giai thọai" Chuyện kể Chử Đồng Tử) Đây là tên một ngọn núi chỉ có trong thần thọai), Chử Đồng Tử trèo lên am trên núi và gặp một đạo sĩ tên Phật Quang. Chử Đồng Tử bèn giao tiền cho khách buôn đi mua hàng, còn mình thì ở lại học phép thuật. Sau thuyền quay lại đón, Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón lá, dụ rằng đây là vật thần thông.
Về nhà, Chử Đồng Tử truyền mọi sự lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán, cùng chồng chu du tìm thầy học đạo. Một hôm tối trời, đã mệt mà không có hàng quán ven đường, hai vợ chồng dừng lại cắm gậy úp nón lên trên cùng nghỉ. Bỗng nửa đêm, chỗ đó nổi dậy thành quách, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng la liệt. Sáng hôm sau, dân chúng quanh vùng kinh ngạc bèn dân hương hoa quả ngọt đến xin làm bầy tôi. Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc như một nước riêng.
Nghe tin, vua Hùng cho là có ý tạo phản, vội xuất binh đi đánh. Quân nhà vua đến, mọi người xin ra chống cự nhưng Tiên Dung chỉ cười và từ chối không kháng cự cha mình. Trời tối, quân nhà vua đóng ở bãi Tự Nhiên cách đó một con sông. Đến nửa đêm bỗng nhiên bão to gió lớn nổi lên, thành trì, cung điện và cả bầy tôi của Tiên Dung-Chử Đồng Tử phút chốc bay lên trời. Chỗ nền đất cũ bỗng sụp xuống thành một cái đầm rất lớn.
Nhân dân cho đó là điều linh dị bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, và gọi đầm đó là đầm Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm), bãi cát đó là Bãi Tự Nhiên hoặc Bãi Màn Trù và chợ đó là chợ Hà Thị.
Lễ hội Chử Đồng Tử tại Đền Hóa Dạ Trạch
+ Thờ cúng
Đền thờ Chử Đồng Tử bao gồm hai đền chính[1].
• Đền Đa Hòa thuộc thôn Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
• Đền Hóa (nơi Chử Đồng Tử và nhị vị phu phân hóa về trời) thuộc thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, huyện Khóai Châu, tỉnh Hưng Yên
Cả hai đền đều thờ Đức Thánh Chử Đồng Tử và Nhị vị phu nhân
+ Các truyền thuyết khác
Có thuyết kể rằng Chử Đồng Tử trong lúc chu du tìm thầy học đạo cùng vợ đã lấy thêm một người vợ thứ hai là một tiên nữ giáng trần. Cả ba người đã giúp dân chữa bệnh
 Liễu Hạnh Công chúa là một trong những vị thần quan trọng nhất của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh, Mẫu Liễu Hạnh hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.
Liễu Hạnh Công chúa được thờ ở rất nhiều nơi như phủ Giầy (Nam Định), phủ Tây Hồ và đền Sòng Sơn Vọng Từ (phố Tôn Đức Thắng) ở (Hà Nội), đền Dâu Tam Điệp (Ninh Bình), đền Sòng và đền Phố Cát (Thanh Hóa), đền Phủ Giày (Thành phố Hồ Chí Minh) ... trong đó, phủ Giầy ở Vụ Bản Nam Định là nơi quan trọng nhất. Hàng năm, đến ngày huý của bà, dân chúng đi trẩy hội rất đông, đặc biệt là ở hội Phủ Giầy vào tháng 3 âm lịch. Thành ngữ có câu: "Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ", nói về ngày giỗ của hai vị được dân gian thờ cúng: "Cha" là Vua Cha Bát Hải Động Đình và Trần Hưng Đạo, còn "Mẹ" chính là bà Chúa Liễu.
Bà còn được tôn vinh trong hệ thống tứ bất tử. Bà thường được thờ cùng với hệ thống tam phủ, nên tạo thành tứ phủ. Mẫu Liễu Hạnh còn được thờ trong một tín ngưỡng riêng gọi là Tam Tòa Thánh Mẫu.
Đời thứ nhất Mẫu giáng sinh tại thôn Quảng Nạp xã Vỉ Nhuế huyện Thái An phủ Nghĩa Hưng trấn Sơn Nam, trong nhà thái ông họ Phạm hiệu là Huyền Viên, thái bà hiệu là Thuần hai người cùng một quê. Ở đời này mẫu cũng luôn giữ chữ Trinh hiếu thảo thờ phụng cha mẹ, sau trở về chốn linh tiêu, mẫu tại thế từ năm Giáp Dần niên hiệu Thiệu Bình nguyên niên (1434) cho tới năm Quí Tỵ niên hiệu Hồng Đức thứ 4 (1473). Đời thứ hai của mẫu giáng sinh vào nhà thái công họ Lê tại xã Vân Cát huyện Vụ Bản phủ Nghĩa Hưng, thái công họ Lê tên húy là Đức Chinh. Tới tuổi trưởng thành được gả cho Trần Đào Lang ở thôn An Thái (sau đổi là Tiên Hương), sinh được một con trai tên là Nhâm. Ở kiếp này mẫu tại thế từ năm Đinh Tỵ niên hiệu Thiên Hựu nguyên niên (1555) cho tới năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Thái thứ 5 (1577). Đời thứ ba của mẫu giáng sinh tại xã Tây Mỗ huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa, lấy chồng họ Mai (là tái hợp với hậu thân của Đào Lang), sinh được một con trai tên là Cổn, được hơn một năm mẫu quay gót trở về đế hương. Sau Ngọc hoàng chuẩn cho mẫu được trắc giáng xuống cõi trần thường xuyên tiêu dao khắp nơi, được miễn vòng sinh tử luân hồi

Tản Viên biểu hiện cho ước vọng chiến thắng thiên tai, lụt lội; Thánh Gióng biểu hiện cho tinh thần chống giặc ngoại xâm; Chử Đồng Tử biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về vật chất; Liễu Hạnh biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về tinh thần của người dân Việt Nam.

Củng cố
Dặn dò

BÀI 3:
NHỮNG TÍN NGƯỠNG TIÊU BIỂU KHÁC
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 6).
I. Bà Chúa Sứ:
1. Nguồn gốc
Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (có người nói 12 hay hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng "cô đồng", nên người dân đã lập miếu để tôn thờ .
Có ý kiến cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm và kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa .
2. Kiến trúc
Ban đầu miếu Bà Chúa xứ được cất đơn sơ bằng tre lá. Năm 1870, ông Giáo Gia đề xướng xây cất lại thành ngôi miếu ngói và sau đó còn trùng tu nhiều lần. Đến năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng.
Kiến trúc miếu có dạng chữ "quốc", hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế...
Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.
Các nhà chuyên môn cho biết tượng Bà Chúa Xứ được tạo vào khoảng cuối thế kỷ 6 đầu thế kỷ 7, bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao. Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh). Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn.
Tượng thờ này thuộc nền văn hóa Óc Eo, mang mô típ mỹ thuật Bà-la-môn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, tương tự tượng Phật Bốn Tay ở chùa Linh Sơn (thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, An Giang). Và thực ra đây không phải là tượng người phụ nữ mà là tượng nam thần đang ngồi trầm tư, nghĩ ngợi, thường gặp trong các tín ngưỡng chịu ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo.
Nhà văn Sơn Nam chép: Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó "Bà Chúa Xứ" là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy...
Và ngoài các bàn thờ Hội Đồng, Tiền hiền, Hậu hiền; cạnh tượng Bà Chúa Xứ, phía bên phải có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ, gọi là Bàn thờ Cô; phía bên trái có một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m, gọi là Bàn thờ Cậu.
3. Việc thờ cúng:
Hội Bà Chúa Xứ được tổ chức hằng năm rất trọng thể vào các ngày cuối tháng 4 âm lịch. Lễ "Tắm Bà" được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch. Lễ "Thỉnh sắc" tức rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24. Lễ "túc yết", tức dâng lễ vật và tiến hành lễ cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là "lễ xây chầu" mở đầu cho việc hát Bội. Lễ Chánh tế (tương tự như lễ "túc yết") vào 4 giờ sáng ngày 27, và 16 giờ chiều cùng ngày là lễ "hồi sắc", tức đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.

Củng cố
Dặn dò


BÀI 3:
NHỮNG TÍN NGƯỠNG TIÊU BIỂU KHÁC (TT)
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 7).
II. Múa lân sư rồng:
Múa lân-sư-rồng là một môn nghệ thuật múa dân gian đường phố có nguồn gốc từ Trung Quốc, thường được biểu diễn trong các dịp lễ hội, đặc biệt là Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu, vì ba con thú này tượng trưng cho thịnh vượng, phát đạt, hạnh phúc, hanh thông...
Múa Lân - Sư - Rồng không những là nghệ thuật trong dân gian mà còn là sự tranh tài với nhau giữa các đội múa. Tùy theo không gian rộng hay hẹp, tùy theo ý nghĩa của dịp lễ hội, đội Lân-Sư-Rồng biểu diễn từng bài, từng cách múa cho phù hợp. Có thể phối hợp múa lân với sư, múa lân với rồng hoặc phối hợp cả ba thể loại với nhau.
Trong màn trình diễn múa lân, sư, rồng, không thể thiếu Ông Địa, một người bụng phệ (do độn vải) mặc áo dài đen, tay cầm quạt giấy to phe phẩy, mang mặt nạ ông địa đầu hói tròn cười toe toét đi theo giỡn lân, giỡn khách xem múa hoặc mua vui cho gia chủ. Ông Địa được cho là hiện thân của Đức Di Lặc, một vị Phật lúc nào cũng tươi vui hiền lành. Truyền thuyết kể rằng Đức Di Lặc đã hóa thân thành người và chế ngự được một quái vật (con lân) từ dưới biển lên bờ phá hoại. Đức Di Lặc hóa thân thành người, gọi là ông Địa, lấy cỏ linh chi trên núi cho quái vật ăn và hàng phục được nó, biến nó thành con thú ăn thực vật. Từ đó, mỗi năm ông Địa lại dẫn nó xuống núi chúc Tết mọi người, chứng tỏ quái thú đã thành thú lành, cái ác trở thành cái thiện. Ông Địa và con lân đi đến đâu là giáng phúc tới đó nên nhà nào cũng hoan hỉ treo rau xanh và giấy đỏ đón chào. Sau này, người có tiền thường treo giải bằng tiền buộc trong một miếng vải đỏ, treo cùng bắp cải hoặc rau xanh. Lân phải trèo lên cao lấy bằng được "thức ăn" này. Tất nhiên, ông Địa không cùng trèo với Lân mà chỉ cùng lân múa, phe phẩy chiếc quạt to, ru lân ngủ hoặc đánh thức lân dậy. Cảnh ông Địa vuốt ve lân và lân mơn trớn ông Địa, thể hiện được tình cảm và sự hòa hợp sâu sắc giữa loài vật và loài người trong một bầu không khí thanh bình, hoan lạc.
1. Múa lân
Ở Việt Nam và Trung Quốc vào dịp Tết Trung Thu có tục múa lân. Ở Miền Bắc Việt Nam và ở Trung Quốc thường gọi là múa sư tử (Chữ Hán: 舞獅. Pinyin: wǔshī. Tiếng Anh: Southern Lion Dance) mặc dù sư tử thì không có sừng. Tuy nhiên, các ghi chú bằng Chữ Nôm trên các bức tranh “Cóc Múa Lân” thuộc dòng Tranh Đông Hồ lại ghi là “Phụng Lân” (Chữ Nôm: 奉麟).
Lân có hai loại: loại có sừng và không sừng.
• Lân không sừng giống hổ là biểu tượng của tháng giêng. Đầu lân không sừng dùng để múa, thường dính vào sau gáy một miếng vải đỏ, viết chữ Vương lớn và đậm nét, mình lân có vòng đen.
• Lân có sừng chỉ có một sừng chính giữa nên còn gọi là kỳ lân, đầu tròn lớn, màu thân giống màu đầu lân, hay được sử dụng để múa nhất.
Lân chỉ chế tạo cái đầu thật công phu, còn mình là vải thêu, viền rất khéo. Có loại lân đặc biệt, nửa giống lân, nửa giống rồng, nhưng ít xuất hiện trong các buổi diễn.
Đám múa lân thường gồm có một người đội chiếc đầu lân bằng giấy và múa những điệu bộ của con vật này theo nhịp trống. Đầu lân có một đuôi dài bằng vải màu do một người cầm phất phất theo nhịp múa của lân. Ngoài ra còn có trống thanh la, não bạt, đèn màu, cờ ngũ sắc, có người cầm côn đi hộ vệ đầu lân và quan trọng nhất không thể thiếu đó là ông Địa. Thường đội lân đánh trống vang xóm và nhà nào có treo thưởng thì đội lân sẽ đến múa chúc vui, tiền thưởng thường treo trên cao, có khi buộc trên cành tre cao, đội lân sẽ đôn người lên cho lân há miệng ngoạm lấy (có khi làm thang là một cột thép dựng đứng để lân leo). Thường phần thưởng càng lớn thì treo càng cao, đội lân càng có nghề càng thích phần thưởng treo cao, xem như một thách thức các đội lân khác, đồng thời qua đó chứng tỏ tài nghệ của đội để thu hút các gia chủ khác. Nhưng trong nhà có người già thì phần thưởng lại được treo thấp dù có giá trị cao, chắc tránh cho lân gặp phải nguy hiểm xem như gia chủ để phước. Ông địa phải vào nhà vái chào người già, gia chủ, sau đến giỡn chơi hoặc làm hề cho trẻ em vui, nếu gia chủ tỏ ý muốn mời thì đoàn lân sẽ vào, sau khi lân ngậm được tiền, lân gục gặc đầu cảm tạ thì ông địa lại vái chào cảm ơn gia chủ trước khi đoàn lân qua nhà khác.
Có nhiều kiểu múa lân.
• "Độc chiếm ngao đầu" - Một con lân biểu diễn, thể hiện tài tả xung hữu đột, tiến thoái nhịp nhàng, bộ pháp hùng dũng, nhảy cao, trèo giỏi, tượng trưng cho cái uy, cái dũng của một mãnh tướng, một hảo hán, một vị anh hùng.
• "Song hỉ" - Hai con lân cùng biểu diễn, thể hiện niềm hân hoan khoan khoái, tâm đầu ý hợp như loan với phụng, như vợ với chồng, như đất trời và âm dương tương hợp.
• "Tam Tinh" - Ba con lân hợp múa với ba màu vàng, đỏ, đen, thể hiện những điều cầu nguyện của mọi người đạt được điều lành, ba điều tốt là Phúc, Lộc, Thọ.
• "Tam Anh" - Ba con lân cùng múa, diễn tả Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi vừa hùng dũng, vừa có chí lớn, vừa thương yêu, gắn bó với nhau hơn cả anh em ruột thịt cho đến chết.
• "Tứ Quý hưng long" - Bốn con lân cùng múa, gồm bốn đầu lân trắng, vàng, đỏ, đen (hoặc xanh), tượng trưng cho bốn mùa, bốn phương, bốn hiện tượng trong trời đất, diễn tả sự sung mãn, trường thọ, mạnh khỏe và hạnh phúc.
2. Múa sư tử
Múa sư tử thì khác múa lân, người múa núp kín thân mình trong bụng sư tử giả và sư tử thì không có sừng. Một tiết mục múa sư của người Hoa gồm 4 người: 2 người múa, 1 người đánh trống, 1 người cầm quả cầu. Trống trong múa Sư được đánh theo nhịp khác với múa Lân, người ta gọi nhịp trống trong múa Sư là nhịp trống Bắc Kinh.
3. Múa rồng
Múa rồng của người Hoa xuất hiện muộn hơn múa lân và muá sư. Trước khi có điệu múa rồng còn có điệu múa loan hoàng và phượng hoàng nhưng ít phổ biến bằng (loan là mái, phượng là trống). Lúc đầu múa Rồng chỉ xuất hiện trong tết Nguyên Tiêu và các dịp lễ hội sau vụ thu hoạch mùa thu. Múa Rồng xuất hiện trong người Hoa ở Việt Nam vào khoảng những năm 1944-1945 do ông Trần Bồi, một chủ cơ sở sản xuất xà bông Trung Nam ở Sa Đéc, vốn là nguồn gốc Phước Châu (Phúc Kiến), nơi được coi là cái nôi của nghệ thuật múa rồng, tổ chức đội múa từ các thanh niên công nhân trong xưởng của ông. Múa rồng có rất nhiều điệu khác nhau, người ta cho rằng có đến hơn 30 điệu.
Rồng được chia thành ba loại:
• Rồng tơ được chế tạo bằng vải gắn chặt vào cây cứng để múa,
• Rồng tròn được làm bằng giấy cứng, có bụng tròn và dài,
• Rồng cứng chỉ dùng để rước, khiêng, chứ không để biểu diễn.
Múa lân hoặc Sư chỉ cần hai người, nhưng múa Rồng thì phải có nhiều người tập rất công phu để thể hiện được các động tác đồng bộ khi rồng uốn khúc, rồng phóng tới, rồng đảo lại. Múa rồng cần ít nhất 6 người, hoặc nhiều cũng đến 20-30 người cùng điều khiển con rồng phô diễn thần oai.
Củng cố
Dặn dò


BÀI 3:
NHỮNG TÍN NGƯỠNG TIÊU BIỂU KHÁC (TT)
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 8).
III. Địa Ông Tà:
Ông Tà trong tín ngưỡng dân gian Nam bộ
Xưa nay, trong tâm tưởng của nhiều người, nhất là cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, ông Tà, ông Địa là những vị thần luôn gần gũi, thân thiện và mang lại phúc lành cho họ. Do đó, mỗi khi gặp chuyện rủi ro hoặc làm ăn sa sút họ thường van vái: “Xin ông Tà, ông Địa hộ độ cho tôi tai qua nạn khỏi”.
Ông Tà là ai, ông từ đâu đến và quyền hành ra sao mà được dân gian kính nể và tôn sùng đến thế?
Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, ông Tà có nguồn gốc từ tín ngưỡng của người Khmer và được người Việt thờ ở khắp lục tỉnh Nam kỳ. Đó là vị thần mang tên Neak Ta, có quyền năng cai quản trong phạm vi phum sóc hoặc một khu vực rộng lớn hơn nên bà con ai nấy đều tôn kính. Nhiều người khi đi ngang qua miếu thờ ông Tà đều dở nón, lột khăn, kính cẩn nghiêng mình.
Xưa nay, mỗi dân tộc đều có một sắc thái văn hóa riêng, nhưng trong quá trình cộng cư thường có sự giao thoa văn hóa. Nhiều phong tục, tập quán và tín ngưỡng thường có sự tác động qua lại và chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Điển hình như tục thờ ông Địa và thần Tài của người Việt hiện nay là xuất phát từ Trung Hoa hoặc ông Tà là của người Khmer.
“Neak” có nghĩa là người nói chung, còn “Ta” là đàn ông đứng tuổi. Hai chữ này họp lại có nghĩa là thần linh*. Nếu như người Khmer thờ các vị thần sông (Neak Ta Prek), thần núi (Neak Ta Phnom), thần rừng (Neak Ta Prey)… thì người Việt và người Hoa thờ ông Địa và thần Tài.
Với đức tin “Hữu thành tắc hữu thần”, thời cổ xưa ông cha ta đã sùng bái nhiều vị thần, trong nhà thì “Sống ở đâu, thổ công ở đó”, ngoài đồng cũng cần một vị thần cai quản ruộng đất, hoa màu là ông Tà. Vì thế, hình tượng ông Tà đã ăn sâu vào tâm thức của nhiều người, nhất là cư dân miệt vườn sông nước.
Khoảng trước năm 1975, ở các vùng quê ngoại thành phố Cần Thơ, hầu như nhà nào cũng có bàn thờ ông Thiên (Thông thiên) và miếu thờ Thổ thần. Ngoài ra, ở một số nơi như đầu vàm, cuối rạch, giữa đồng hoặc bên cạnh gốc đa, gốc dừa, doi đất còn có miếu thờ ông Tà. Miếu chỉ rộng chừng một mét vuông, đủ chất vài cục đá và chiếc lư hương. Có khi ông Tà nằm ngoài mưa gió hoặc thu mình dưới những bọng cây. Hàng năm, bà con đều rước thầy về cúng Thổ thần và bao giờ cũng dành riêng cho ông Tà một mâm rượu thịt. Theo lệ, khi cúng ông Tà, chủ nhà phải ăn trước mỗi món một chút để chứng tỏ thức ăn đó không độc.
Chính những viên đá hình tròn, nhẵn nhụi đặt trong miếu, trên gò đất cao hoặc bên cạnh gốc cây là hình tượng tiêu biểu cho ông Tà. Viên đá lớn được gọi là thần, còn mấy viên nhỏ tượng trưng cho ma quỷ theo hầu.
Có rất nhiều giai thoại thật huyền bí và hấp dẫn về lai lịch và thành tích của ông Tà. Người ta đồn rằng ông Tà được thờ trên bọng cây, nếu đứa trẻ nào đó bướng bỉnh, cắc cớ ném ông xuống ruộng, nhất định vài hôm sau ông sẽ trở về chỗ cũ. Ông Tà rất thương trẻ con nên không bao giờ quở phạt trẻ dù chúng nghịch ngợm. Tại gần một khu du lịch, nhiều người qua đường cứ tiêu tiểu, xả rác rất mất vệ sinh, nhưng từ khi chủ đất thỉnh ông Tà về thờ cúng, tuyệt nhiên không ai dám đến làm chuyện bậy bạ đó nữa.
Với người Việt, bà con thờ ông Tà cũng giống như thờ Thổ thần hoặc thần Tài, ông Địa vì ai cũng muốn trong nhà, ngoài ngõ luôn có một vị thần trông coi việc gia cư, định đoạt phúc và giúp họ an cư lạc nghiệp. Để có được một chỗ thờ trang nghiêm, bà con chọn một gò đất thật cao, xung quanh vắng vẻ để dọn nền cất miếu thờ ông Tà. Cạnh bên miếu thường trồng cây đa, cây xộp hoặc bụi tre gai để tạo bóng mát.
Ngày nay, có dịp về vùng sâu ở nông thôn, chúng ta có thể tìm thấy hình ảnh ông Tà thờ chung với Thổ thần trong cùng một ngôi miếu, nhưng bài vị thì chỉ có hai chữ Thổ Thần bằng tiếng Hán. Hàng năm, bà con thường cúng ông Tà vào tháng Giêng, sau khi thu hoạch mùa màng. Đồ ăn, có gì cúng nấy, nghèo thì nải chuối, ba vắt xôi… giàu thì gà, vịt, đầu heo và một bình rượu trắng, quan trọng vẫn là tấm lòng thành như ông cha thường nói: “Tâm động quỷ thần tri”. Trong cuốn Đình miếu và lễ hội dân gian, nhà văn Sơn Nam đã đưa ra một nhận định thật chí lý: “Ý niệm về thiên - địa - nhân lắm khi linh cảm nhưng không lý luận được”.
Lại có chuyện kể rằng, xưa kia, ông Tà được nhiều người mến mộ, cúng bái nhưng từ khi ông Địa vào nhà, bao nhiêu đồ cúng đều về tay ông Địa, ông Tà dần dần bị thất sủng, lại còn bị “thỉnh” ra ngồi dưới gốc cây hoặc bìa ruộng, bìa vườn. Vì vậy ông đã nhờ một vị thần phân xử.
Sau khi xem xét, vị thần ấy phán rằng: Địa suốt ngày cần mẫn chăm lo họa phúc cho dân tình nên được mọi người kính nể, còn như Tà thích rong chơi, hay ngao du sơn thủy, ít gần gũi xóm giềng nên người đời xao lãng, đó cũng là lẽ thường tình. Kể từ bây giờ, các ngươi hãy siết chặt tay nhau, người nào việc nấy để cùng chăm lo cho dân lành theo sự phân công của ta, ông Địa giữ nhà, ông Tà giữ ruộng. Thế là ông Tà mãn nguyện, sẵn sàng ngụ ở bất cứ nơi nào, dù ngoài đồng, bờ ruộng, gốc cây hay hang đá vẫn cứ vui lòng.
IV. Địa Bà Nàng:
Qua khảo sát miễu Bà ở Đồng Nai, Bà được thờ là một tập hợp các nữ thần có nguồn gốc và lý lịch khác nhau, được thờ cúng ở miễu tùy theo tâm niệm của mỗi nơi, phổ biến là các Bà Ngũ Hành nương nương; Liễu Hạnh công chúa; Bà Chúa Thượng ngàn; Chúa Ngọc nương nương, Chúa Tiên nương nương; Chúa Xứ nương nương, Linh sơn thánh mẫu; Thiên Hậu thánh mẫu; Thủy Long thần nữ, các nữ thần bổn địa…
Việc bày trí điện thờ hết sức đơn giản: bát nhang, bình bông, chén nước, chân đèn… Nhiều nơi vật thờ còn có thêm: gương, lược, trâm cài, quạt và một vài món trang sức khác của nữ giới. Những miễu độc lập thường có thêm Tả ban, Hữu ban, Nhị vị công tử, Nhị vị công nương, cậu Chài, cậu Quới… Vì là thờ nữ thần cho nên án thờ dù nhỏ vẫn thường được trang hoàng sặc sỡ, có lộng che, rèm phủ. Trước kia, rất ít miễu có cốt tượng, thường thờ đơn giản bằng chữ Hán vẽ trên tường hay dán trong khám thờ. Gần đây phát triển thờ cốt tượng bằng thạch cao, xi măng, gốm hoặc vẽ bằng tranh lồng kiếng cho nên các Bà đều đồng dạng, trang phục lộng lẫy như nhau, chỉ khác ở tên gọi. Riêng Bà Ngũ Hành là dễ nhận ra nhất với bộ cốt tượng đủ năm bà trong năm sắc áo khác nhau: xanh, đỏ, tím, vàng, lục với quan niệm cổ truyền rằng hành thổ màu vàng là trung tâm nên ngồi giữa.
Lễ hội cúng Bà ở mỗi miễu một khác, tùy vào ngày vía của mỗi Bà. Những ngày sóc, vọng, ngày Tết, ngày vía đất, các miễu Bà được mở cửa cúng một lễ nhỏ bằng nhang, đèn, bông, bánh trái. Ngày vía mới là lễ chính. Có nơi cúng thường niên như nhau, có nơi đáo lệ hai ba năm một lần. Lễ cúng vía Bà thường vào ban đêm (thuộc âm) do Ban quý tế của làng đứng cúng hoặc có khi do tổ chức hội mẫu ở địa phương làm chủ lễ. Miễu thuộc hệ dân dã nên nghi thức cúng Bà không đúng khung theo khuôn phép điển lệ; cởi mở, sinh động hơn cúng đình. Tuy nhiên nhiều địa phương vẫn áp dụng nghi thức cúng đình trong cúng miễu.
Lễ vật cúng miễu đơn giản và cũng không nhiều kiêng kỵ như cúng đình. Bình thường thì: heo quay, heo luộc, mâm xôi, đèn nhang, bánh trái, nghèo hơn thì cúng gà, xôi, chè, heo thu gọn thành thủ vĩ, vịt quay… nói chung là tùy tâm, tùy sức. Dân làng thành tâm dâng cúng hoa, mâm vàng bạc, đồ trang sức… đều được miễn là lòng thành.
Đêm trước ngày vía, có nơi đáo lệ hai ba năm hoặc năm năm một lần tiến hành lễ thay áo cho Bà như lễ mộc dục phổ biến. Khi tiến hành lễ này, Chánh bái, Bồi tế lên nhang đèn khấn vái xin phép Bà, rồi lui ra. Các phụ nữ “sạch mình” đã chuẩn bị sẵn nước thơm (nước lá sả, hương nhu, bông bưởi), dùng khăn sạch nhúng nước thơm lau khắp các tượng Bà. Khăn lau Bà xong,vắt trả nước ra thau khác, cứ như thế cho đến khi sạch rồi thay cho Bà áo mới, áo cũ và khăn lau không được dùng việc khác, sau phải đốt.
Dự phần vào lễ hội cúng Bà phổ biến là Hát bóng rỗi, chặp Địa-Nàng, một loại hình nghệ thuật truyền thống phổ biến ở Biên Hòa - Đồng Nai.
Hát bóng rỗi, Chặp Địa-Nàng vừa mang tính nghi lễ (để cúng) vừa để giải trí, vui chơi trong lễ hội; đó là hình thức diễn xướng tổng hợp, gồm nhiều tiết mục liên hoàn, đồng thời cũng có thể phân chia thành các tổ hợp tiết mục tùy chọn. Hát bóng rỗi, Địa-Nàng ở Đồng Nai thường gồm các tiết mục: Khai tràng; Chầu mời-thỉnh tổ; Chặp Địa-Nàng; Hát bóng rỗi.
Mở đầu cuộc hát luôn là lễ Khai tràng nhằm mục đích khai mạc cuộc hát, do dàn nhạc bóng biểu diễn. Tiếp theo là các xấp hát Chầu mời-thỉnh tổ. Điệu hát vận dụng cả lý, vè, nói rỗi (nói lối) nhiều khi cả làn điệu tuồng. Sau Hát Chầu là diễn Chặp Địa-Nàng. Đây là Chặp bóng - tuồng hài hước thường gắn với lễ cúng miễu Bà hoặc miễu Thổ Địa. Cuộc hát chỉ có hai nhân vật là Địa và Nàng. Chặp Địa - Nàng vừa dứt, bóng múa liền tiếp theo. Bóng múa vừa mang tính nghi lễ vừa nhằm mục đích giải trí. Các bóng thay nhau múa bông, múa dâng mâm vàng rồi tiếp theo là các tiết mục tạp kỹ. Các tiết mục múa trò chơi, gọi là múa tạp kỹ dài - ngắn, nhiều ít tùy thuộc không khí cuộc vui; dân làng thưởng nhiều thì sự hào hứng khiến các bóng múa hay, khéo, tận tình hơn và ngược lại.
Các nữ thần được thờ tại miễu ở Đồng Nai phần lớn có nguồn gốc nữ thần biển, đánh dấu một hồi ức gắn với chặng đường gian lao hình thành các cộng đồng cư dânViệt ở Đồng Nai. Với một tập hợp nữ thần phức hệ như thế, Đồng Nai như là điểm hội tụ đồng thời cũng là nơi khuếch tán các hệ tín ngưỡng thờ nữ thần của miền Bắc, miền Trung, miền Tây, người Hoa và bổn địa. Tục thờ cúng nữ thần cũng cho thấy, cư dân Việt ở địa phương ít nhất cũng tìm được biểu tượng có ý nghĩa nhân bản hơn tư tưởng Nho giáo vốn xem thường phụ nữ.

Củng cố
Dặn dò


BÀI 3:
NHỮNG TÍN NGƯỠNG TIÊU BIỂU KHÁC (TT)
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 9)
V. Lễ cúng Thần Lúa của người Châu-Ro (Lễ Sa Yang-va)
Người Châu-ro được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Ph’nôông, Ro, Tô, Xôp, Dơro… Đồng bào tự gọi là Chrau Jro (Chrau: người, Jro: tên bộ tộc). Theo số liệu thống kê năm 1999, dân số người Châu ro là 13.760 người, xếp thứ 5 trong số 40 dân tộc đang sinh sống ở Đồng Nai, phân bố đông nhất ở các xã Xuân Bình, Xuân Vinh (Long Khánh); Xuân Trường, Xuân Phú, Xuân Thọ (Xuân Lộc); Túc Trưng (Định Quán); Phú Lý (Vĩnh Cửu). Người Châu ro được xem là một trong số các cư dân bản địa ở Đồng Nai (gồm Châu ro, Châu Mạ, S’tiêng, Kơ-ho)

Lễ Sa Yang-va là lễ hội truyền thống của người Châu ro hằng năm vẫn còn nhiều nét đặc sắc, phản ánh nền kinh tế nông nghiệp nương rẫy du canh, phụ thuộc thiên nhiên sâu sắc. Tháng 11 Âm lịch, mùa rẫy kết thúc, thóc lúa gặt hái xong được phơi kỹ, cất vào chòi hoặc bồ lúa. Từ tháng Chạp tới tháng 3 Âm lịch, trời nắng khô, bà con vô rẫy chặt cây, phát cỏ. Từ đầu tháng 3, họ xem trời lựa ngày đốt rẫy, chuẩn bị tỉa hạt. Đó là thời điểm cúng Yang-va.
Dăm mươi năm trước, người Châu ro còn ở nhà dài. Căn nhà có khi dài năm bảy chục mét chứa số cư dân tương đương vài chục hộ nhỏ một ấp, có một già làng đứng đầu, thì lễ cúng Yang-va mang tính tập thể kéo dài khoảng 1 tuần liền. Nay nhà dài không còn, từng hộ lần lượt cúng thì lễ hội này ở mỗi ấp có thể kéo dài cả tháng, nhưng cũng chỉ trong tháng 3.
Rượu ịt (rượu quảng - một thứ rượu cần) được đồng bào làm trước cả tháng. Gạo lứt nấu chín, trải ra đệm bàng cho nguội. Men làm bằng một số lá rừng trộn vỏ cây bình linh giã nát với bột gạo nặn thành viên. Vò rượu ịt to cỡ thùng gánh nước trở lên được rải lớp trấu sạch mỏng ở đáy, cơm trộn men theo tỷ lệ nhất định được đổ vào. Miệng vò gài vỉ, rồi người ta úp ngược vò xuống đất ba ngày đêm. Sau đó vỉ được mở ra, phủ lớp trấu sạch mỏng lên trên cùng và bịt miệng vò. Nếu cơm khô, một tháng sau rượu ngấm; cơm nhão chỉ 25 ngày đã được rượu. Chủ nhà chiết ra một chai rượu cốt để cúng, sau đó đổ thêm nước lã đầy vò. Lúc uống, người ta dùng cần dài mà hút. Rượu vơi thì châm thêm nước cho đầy. Rượu ịt có màu đục lờ lờ, ngai ngái mùi lá tươi, là thứ nước lên men nhẹ (uống nhiều cũng say)
Trước ngày cúng Yang-va, chủ nhà sách chai rượu ịt đi mời họ hàng, bạn bè chòm xóm. Khách đến dự đều chuẩn bị một chai rượu, có thể là rượu đế và phong bao tiền, tùy hảo tâm.
Vào ngày cúng Yang-va, mọi thứ đều phải được chuẩn bị sẵn từ trước. Thông thường chủ nhà nhờ họ hàng, bạn bè làm giúp như dựng cây nêu, làm các loại bánh cúng (bánh dày, bánh nếp, cơm lam…), trang hoàng bàn thờ Yang… Người ta lấy hai cây tre non vót thành bông ở đầu cây - tượng trưng cho bông lúa. Đỉnh bông trải lớp tro để đốt trầm hoặc nhang thơm. Một cây dựng ở bàn thờ, một cây đặt ở kho lúa. Bàn thờ Yang rất đơn sơ, đặt dăm mâm cúng, mỗi mâm đều có thịt gà, bánh, rượu, miếng thịt heo sống…Riêng mâm hứa trả vụ tới không có thịt gà mà có 15 cọng tre, mỗi cọng xâu 7 miếng tim, gan, lòng… đặt quanh miếng thịt heo sống.
Người gọi Yang đọc lời khấn trong buổi cúng theo truyền thống là Bà Búp hoặc Thầy Chang nhưng vài mươi năm trở lại đây là người chủ gia đình, người được tôn trọng trong dòng họ, thân tộc. Vào sáng sớm ngày cúng Yang-va, trong khi người nhà và họ hàng chuẩn bị lễ vật cúng thì bà chủ nhà đeo gùi, mang theo bầu nước và chà gạt vào rẫy, thực hiện nghi thức “rước hồn lúa”. Lễ vật sau khi thực hiện nghi thức “rước hồn lúa” gồm có 02 cây mía, 02 cây chuốc non, các bông lúa nhiều hạt và sau khi đưa về nhà được chia làm hai phần: một để ở bàn thờ Yang-va, một đặt vào trong kho lúa.
Lễ cúng Yang-va thường bắt đầu vào lúc 10 giờ, làm lễ ba lần:
- Lần đầu, chủ nhà đọc lời thỉnh Yang và ông bà tổ tiên về chứng kiến lòng thành của chủ nhà.
- Lần thứ hai khấn trả lễ mùa trước và cầu mong mùa vụ tới Yang và ông bà cho được mùa thì sẽ trả lễ to.
- Lần thứ ba tổ chức cúng ngoài kho lúa.
Bài khấn hứa của chủ nhà có tiết tấu nhịp nhàng, nội dung lời khấn ở trong nhà và kho lúa không khác nhau nhiều. Ở kho lúa chú trọng đến Yang lúa nhiều hơn các Yang khác. Lễ cúng diễn ra trong tiếng đàn cồng chiêng bảy chiếc, đánh theo nhịp điệu lúc khoan thai, lúc dồn dập. Đồng bào cho rằng phải có tiếng nhạc cụ, cồng chiêng rộn ràng thì ông bà tổ tiên và các Yang mới vui vẻ về dự và chứng giám lễ cúng.
Khi cúng Yang ở kho lúa cũng là kết thúc nghi lễ cúng Yang-va. Gia chủ mời khách lên nhà chính. Lễ vật, thức ăn làm cho ngày cúng Yang được dọn ra đãi khách. Mở đầu cuộc vui, vò rượu cần được khai mở và người phụ nữ lớn tuổi nhất trong gia đình được mời uống trước vì là tiêu biểu cho sự cai quản, chăm sóc nhà cửa, chịu đựng nhiều khó khăn, lo lắng trong gia đình… Trong khi cùng chúng vui uống rượu cần, mọi người đều vui vẻ, ca hát những bài hát của dân tộc mình theo tiếng đàn tre, kèn lúa, cồng chiêng ngân vang.
Đêm xuống, tại khoảng sân rộng trước nhà gia chủ, đồng bào tụ tập xung quanh bếp lửa cùng nhau ca hát, nhảy múa, biểu diễn nhạc cụ… Gia chủ cũng chuẩn bị sẵn rượu cần để mời khách. Họ vui chơi cho đến khi bếp lửa tàn, thường là nửa đêm, mới kết thúc trọn vẹn lễ hội cúng Yang-va.

Củng cố
Dặn dò


BÀI 3:
NHỮNG TÍN NGƯỠNG TIÊU BIỂU KHÁC (TT)
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 10)
VI. Lễ cúng Yang Koi của Người mạ.
Dân tộc Châu Mạ được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Chau Mạ, Chê Mạ, Mạ Ngan, Mạ Xôp, Mạ Tô, Mạ Xrê… Theo số liệu thống kê năm 1999, số người Châu Mạ trong toàn tỉnh là 2.187 người, xếp thứ 10 trong số hơn 40 dân tộc anh em. Họ tập trung đông nhất tại ấp Hiệp Nghĩa (thị trấn Định Quán) và Tà Lài (huyện Tân Phú) và các xã khác như Phú Bình, Phú Sơn…
Trong một năm, người Mạ có rất nhiều lễ cúng. Quan trọng nhất là lễ cúng Yang Bơnơm và Yang Koi với sự tham gia đông đảo của cộng đồng. Yang Bơnơm thường được tổ chức cúng vào cuối năm âm lịch. Một ngọn núi được xem là linh thiêng là nơi thần linh ngự trị sẽ được chọn để làm lễ. Người cúng là người có uy tín trong cộng đồng thay mặt dân làng hành lễ, cầu xin phúc đến họa trừ cho mọi người.
Lễ cúng Yang Koi là lễ cúng lớn nhất của người Mạ. Thời gian cúng thường vào tháng 2 đến tháng 3 Âm lịch, khi mà người Mạ đã thu hoạch xong mùa màng (tương tự lễ cúng Yang-va của người Chơ-ro). Trước đây lễ cúng được tổ chức tại nhà dài nhưng gần đây do kết cấu cộng đồng có sự thay đổi nên mỗi nhà tùy theo điều kiện tự tổ chức.
Để tổ chức lễ cúng, đàn ông Mạ vào rừng chọn những cây tre cao, thẳng đem về khoảng sân để hành lễ. Họ lấy hai cây tre non cao từ 3 đến 4 mét chẻ ngọn thành các nhánh được trang trí bằng những hình vuông với các chùm bông tỉa ra. Chính giữa cây tre cắm chùm gai mây tượng trưng cho bông lúa. Những hoa văn hình học trên các vật trang trí thể hiện qua các tay dan, các dây nối kết từ gốc đến ngọn thẳng lên trời cao. Cây tre được phân chia thành nhiều nấc với các hình vuông, tròn bao trùm và tỏa xuống phía dưới gốc có nhiều dây trang trí các hình tượng con dê bằng lạt tre rất sinh động. Hai cây tre này được chôn trước sân, ở mỗi bông xòe ra cài một chén cơm nhỏ. Dưới gốc cây tre là những chóe rượu cần được bày sẵn. Lễ vật thùy theo điều kiện kinh tế của buôn làng mà già làng đứng ra làm chủ tế. Ở từng hộ riêng, tùy khả năng mà gia chủ giết gà, vịt, heo, dê hoặc trâu để làm lễ cúng và gia chủ tự cúng, không mời Thầy Cúng hoặc Bà Bóng.
Lời khấn vái có nhịp điệu, tiết tấu nội dung cụ thể và không có tính van lơn như lời khấn vái của người Kinh: “Ơ Thần Lúa! Lúa dưới nước, dưới bùn hãy về nhà tôi ăn gà vịt với tôi. Đây là lần cuối tôi thu được mùa. Tôi lạy Thần Lúa, Thần Đất đã cho tôi được mùa vừa qua” hoặc “Năm nay tôi uống mừng lúa. Tôi cúng heo cho Thần Lúa mong cho lúa ăn đừng hết. Tới năm sau làm nữa thì có nữa. Mong Thần Lúa đứng làm cho tôi đói, tôi làm rẫy có cơm ăn. Tôi mời Thần Lúa ăn con heo, uống rượu, ăn cơm nếp. Tôi mừng Thần Lúa. Tôi ăn đến mùa tới. Sang năm tôi lại làm ba lần cho Thần Lúa ăn. Trước tháng 4 cúng con gà. Bắt đầu tháng 7 cúng Thần con vịt. Tháng 11 tôi có lúa nhiều, tôi cúng Thần Lúa con heo. Năm nay Thần Lúa cho tôi ăn, tôi làm nữa để lại có cơm ăn…”
Sau lễ cúng, mọi người cùng chung vui dự tiệc. Đêm xuống họ đốt lửa vui ca nhảy múa, thể hiện sức mạnh qua các trò chơi của thanh niên… Nhạc cụ hòa nhịp theo các bài hát, điệu nhảy múa. Theo truyền thống, việc vui chơi kéo dài đến 3 ngày đêm, có khi cả tuần lễ. Nhưng ngày nay thường diễn ra trong một ngày đêm. Dẫu quy mô, nghi thức đã giản tiện hơn trước đây nhưng lễ cúng Yang Koi vẫn được tôn trọng trong đời sống tâm linh dân tộc Mạ. Đây là lễ cúng mà người Mạ quan niệm rằng vị thần này liên quan trực tiếp đến lương thực của cuộc sống cộng đồng họ.
Theo truyền thống người Mạ thường hay làm lễ đâm trâu. Cứ 3 năm một lần làm lễ hiến sinh là con trâu đực béo tốt. Đôi mươi năm gần đây dù không diễn ra theo định kỳ nhưng có nơi đồng bào vẫn bảo lưu lễ thức này vào những dịp làng gặp may mắn, bội thu vụ mùa.
Sau mùa thu hoạch, già làng mời các vị lớn tuổi trong làng họp để bàn về lễ đâm trâu. Mọi việc được thống nhất và khoảng một tháng sau thì già làng họp lần nữa và quyết định ngày tiến hành. Họ chuẩn bị trong vòng 7 ngày. Lễ hội thường diễn ra ở cánh đồng gần làng hoặc nơi rộng rãi và bằng phẳng. Họ dựng hai cây nêu bên trên có gắn biểu tượng hình bông lúa được buộc các tua xanh đỏ. Một con trâu đực được kết hoa ở trên đầu đóng cột vào cây nêu. Họ đốt đống lửa to, bên cạnh đàn ông đánh đồng la, đàn bà hát múa, các cụ già thổi kèn bầu, kèn môi… Họ đi vòng quanh theo con trâu. Sau đó già làng đại diện cho cả Bon cầm chà gạc chém bên chân trái con trâu, trâu đi thêm vài vòng nữa. Nam nữ thanh niên nhảy múa sôi động, cồng chiên đánh inh ỏi. Già làng lại chém tiếp chân bên phải. Lúc này con trâu chỉ còn lê được hai chân trước. Vài vòng sau họ chém nốt hai chân còn lại. Sau đó già làng dùng giáo đâm vào ức con trâu. Trâu chết họ bỏ lên đống lửa thui chín. Một nửa con trâu được xẻ ra từng miếng nhỏ chia đều cho từng thành viên trong các hộ gia đình ở làng, nửa còn lại xẻ ra ăn uống tại sân lễ. Họ uống rượu cần, ăn bánh nếp mà mỗi nhà mang tới cùng góp chung vui. Thường là sau 3 ngày thì lễ hội kết thúc nhưng các vị lớn tuổi trong làng ăn uống cho tới ngày thứ bảy mới thôi.

Củng cố
Dặn dò


BÀI 3:
NHỮNG TÍN NGƯỠNG TIÊU BIỂU KHÁC (TT)
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 11)
VII. Lễ cúng Lơh-Yang-Rơ của người Kơho
Cộng đồng dân tộc Kơho có nhiều nhóm như:Xre; Nôp; Cơ Don; Chil; Lạt; T’ring…, sống xen kẽ và giao lưu chặt chẽ với các dân tộc mạ và Mnông anh em nên một số nhóm Kơho phó phân biệt với hai dân tộc trên, nhất là về tiếng nói. Người Kơho là một trong các cư dân bản địa sinh sống lâu đời ở phía Bắc tỉnh Đồng Nai. Theo số liệu thống kê năm 1999 người Kơho có 720 nhân khẩu, xếp thứ 13 về dân số trong cộng đồng các dân tộc ở Đồng Nai. Bà con sống tập trung ở huyện Tân Phú (đông nhất là xóm Là Ủ, xã Phú Bình) và rải rác ở các huyện Long Khánh, Định Quán…
Người Kơho quan niệm thần linh, ma quỷ chi phối đến đời sống nên họ tổ chức cúng tế rất nhiều trong năm, nhưng có hai lễ cúng quan trọng và tổ chức lớn trong đời sống của người Kơho la lễ cúng thần lúa (Lơh Yang rơ) và lễ hội đâm trâu (Nhôxarpu).
Sau khi thu hoạch xong vụ mùa, người Kơho tổ chức cúng yang lúa để tạ ơn thần lúa đã phù hộ một vụ mùa bội thu, thóc lúa đầy kho, hứa hẹn một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Qua đó họ cũng xin thần lúa phù hộ cho họ một vụ mới vào năm sau khá hơn năm trước.
Lễ vật cúng thường tổ chức mổ lợn, giết dê hay gà, vịt và rượi cần. Trong lễ cúng Yang lúa, người Kơho lập bàn thờ Yang ở kho lúa của mình. Cách trang trí bàn thờ Yang gồm: bên trên được trang trí cây bông vải, cây bông tre đã bôi tiết của con vật dùng cúng lễ. Bên dưới gồm các vật như: thính (cốm dẹp); bánh chưng, bánh dầy, củ khoai môn đỏ; bộ đồ lòng các con vật cúng; ly rượu; bó bông lúa; đọt mây… Hai sợi dây chỉ được đính bông trắng nối liền từ tầng trên của bàn Yang đến bình rượu cần, dùng làm dây dẫn đường để Yang đến được với bình rượu và các vật tế lễ.
Trong lúc hành lễ, người lớn tuổi hay già làng sẽ đọc lời gọi Yang, lễ tạ ơn, cầu xin… Lễ cúng Yang được tổ chức ở kho lúa trước xong rồi mới được di chuyển vào nhà ở.
Đây là lễ hội lớn, xảy ra trong thời điểm rảnh rỗi, mang tính chất ăn mừng. Lễ hội thường diễn ra từ 3 đến 7 ngày trong không khí vui vẻ. Trong điệu nhạc cồng chiêng (cing và gòng) và men rượu cần, mọi người nhảy múa, hát hò, kể chuyện, làm quen… Các hình thức văn hóa nghệ thuật được dịp phô diễn bảo lưu cho các thế hệ trẻ.
Lễ đâm trâu (Nhôxarpu) diễn ra trong dịp cúng cầu an cho làng hay để thông báo với toàn thể dân làng về mối tình anh em vừa kết nghĩa. Lễ vật dùng cho lễ đâm trâu giản đơn với cúng là trâu và rượu cần dùng để uống mừng. Nơi diễn ra lễ hội là một khoảng đất trống đủ rộng được dựng hai cây cột. Cột cao có hình tượng cặp sừng trâu và cây bông trắng bằng tre, nứa - vật tượng trưng biểu hiện thần linh. Cột thấp vững chắc dùng cột trâu.
Trâu được cột thấp trước một ngày và lễ đâm trâu sẽ diễn ra mờ sáng hôm sau dưới sự cầu xin thần linh chứng giám, phù hộ những điều tốt đẹp và sự vui đùa nhảy múa của dân làng.
Vật đâm trâu là một loại giáo với hai bề lưỡi rất bén dùng đâm vào bên hông trái xuyên vào tim. trong lễ cúng cầu an, già làng hoặc người cao tuổi được quyền ưu tiên đâm trâu. Trong lễ kết nghĩa anh em, người bạn được thông báo với làng sẽ cầm giáo đâm trâu.
Trong lễ cúng cầu sự an lành cho dân làng, thịt vật cúng được chia đều cho dân làng đẩ ăn mừng, uống rượu vui vẻ trong ngày lễ hội. Trong lễ kết nghĩa anh em, thịt trâu cũng được chia đều cho 2 bên. Tùy mỗi người trong lễ kết nghĩa mà chia họ hàng bà con để thông báo đều đến với mọi người. Người Kơho kiêng kỵ sự gian dối, tham lam nên thịt trâu trong các dịp lễ hội không thể ăn một mình mà phải chia đều cho mọi người để cùng hưởng niềm vui và sự an bình.

Củng cố
Dặn dò


BÀI 3:
NHỮNG TÍN NGƯỠNG TIÊU BIỂU KHÁC (TT)
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 12)
VIII. Tố (Hồ Bà Lam):
Tại Bảo Tháp tự, dân gian gọi là chùa Bồ Tát, thuộc địa phận thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Năm 1328 (thời nhà Trần) có vị cao tăng Hồ Bà Lam đến tu. Ông là hoàng thân nhà Hồ, khi tu ở chùa ngoài việc tụng kinh niệm Phật còn đi thu nhận những trẻ mồ côi, cô nhi, quả phụ về chùa nuôi dưỡng. Nhân dân đương thời ca ngợi, tôn Ngài là Bồ Tát sống; có câu ca rằng:
Cô nhi quả phụ các nơi
Đến chùa đều được Tổ nuôi hàng ngày
Không cơm mặn thì cơm chay
Nhiều khi Tổ phải đi “vay” nuôi người
Ngài tu ở chùa cho đến khi Hoàng thái hậu Minh từ Hồ Thuận Nương (mẹ vua Trần Nghệ Tông) về lánh nạn Chiêm Thành đánh phá Thăng Long. Bà mến cảnh chùa, mộ đạo Phật, nên xin ở lại chùa đi tu. Nhà sư thấy bà tướng mạo cốt cách quả là người nhân hậu, có căn duyên nên đã trao truyền Y Bát rồi tự lên giàn hỏa, hóa Phật. Đó là ngày 14 tháng Tư. Sử cũ không chép về sự kiện này, nhưng tại Thượng Phúc, mỗi khi nhà chùa làm giỗ Tổ, các bà vãi lại hát chèo đò, kể hạnh:
Tổ ngồi niệm Phật ung dung
Mặc cho lửa cháy tứ tung bốn bề
Dân làng thương khóc thảm thê
Tổ bảo: “Đi về, đừng có khóc thương
Ta lên Cực Lạc Tây Phương
Tháng Tư - Mười Bốn ta thường về đây…”
Hiện nay tại khám thờ Tổ vẫn còn tượng pháp của Ngài và đôi câu đối:
Lục dương sơ bát thời, Thần giáng phi duy Tây hữu
Tứ nguyệt thập ngũ nhật, Phật thành khởi thị Nam vô
(Tháng sáu, ngày tám thần giáng, chẳng phải Tây Trúc mới có
Tháng tư, ngày rằm thành Phật, khởi tự nước Nam)
Tuân theo đạo hạnh của Bồ Tát Hồ Bà Lam, làng Thượng Phúc mỗi khi mở hội chùa, nhà dân đều nấu cháo để ngoài cửa mời khách qua đường. Ai đói cứ ăn tự nhiên không câu nệ. Dân gian còn tin rằng mỗi khi đến ngày giỗ Tổ bao giờ cũng có sự chuyển thời tiết:
Đang nồm mà dậy gió may
Cả làng đều biết hôm nay Tổ về
Sau ngày làm lễ, thường có cuồng phong thổi từ Tây Nam về Đông Bắc báo hiệu Tổ đã ra đi.
Củng cố
Dặn dò

BÀI 3:
NHỮNG TÍN NGƯỠNG TIÊU BIỂU KHÁC (TT)
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 13)
IX. Đình Tân Lân – Trần Thượng Xuyên:
1. Đình Tân Lân:
Đình Tân Lân, toạ lạc trên đường Nguyễn Văn Trị, mặt tiền hướng Tây Nam, nhìn ra dòng sông Đồng Nai. Xưa kia đình thuộc thôn Tân Lân (Xóm Mới), huyện Phước Chánh, dinh Trấn Biên, nay là phường Hoà Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam.
+ Lịch sử
Ngày 23 tháng 10 năm 1720, Trấn Biên Đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên mất. Để ghi nhớ công lao của ông trong công cuộc khai phá đất đai và mở mang thương mại vùng Đồng Nai - Gia Định, nhân dân trong vùng đã lập ngôi miếu nhỏ thờ ông trong khu vực thành cổ Biên Hòa.
Ngày 14 tháng 12 năm 1861, theo kế hoạch đánh chiếm Biên Hoà do tướng Bonard phê chuẩn, liên quân Pháp và Tây Ban Nha với khoảng một ngàn quân, hai hạm thuyền tiến đánh cả đường bộ và đường thủy. Sáng ngày 17, Pháp chiếm được tỉnh lỵ Biên Hoà, và kể từ đó ngôi miếu phải hai lần dời chuyển (năm 1861 và 1906), mới đến nơi hiện nay. Năm 1935, miếu được xây dựng mới kiên cố và đặt tên là Tân Lân thành cổ miếu (gọi tắt là Đình Tân Lân).
+ Kiến trúc
Nơi chính điện thờ tướng Trần Thượng Xuyên.
Đình Tân Lân toạ lạc nơi khuôn viên đất rộng khoảng 3.000m2, trên một nền cao 60cm bằng đá xanh, lát gạch bông (20cm X 20cm), với lối kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn hoá Trung Quốc. Mặt đình được kiến trúc theo kiểu chữ tam (三), lợp ngói âm dương, trên nóc chính điện có lưỡng long tranh châu, lý ngư hóa rồng. Trên hai đầu đao còn có tượng ông Nhật, bà Nguyệt, tiên đồng, ngọc nữ...
Đình gồm ba gian: tiền đình, chánh điện và hậu cung nối tiếp nhau. Hai bên tả hữu là miếu thờ Bà và thờ Ông.
+ Tiền đình
Phần Tiền đình có diện tích 75,5m2. Trên nóc trang trí hàng trăm tượng người, vật bằng gốm sứ men xanh màu lưu ly thể hiện các đề tài cổ điển phương Đông một cách sinh động như: Bát tiên quá hải, Quan Công phò nhị tẩu, thiếu nữ giao cầu, diễn võ đài, cảnh bái triều rước xách, tiễn đưa, diễn hí tấu nhạc, vinh qui bái tổ, xét xử tội nhân nơi địa ngục, hội triều nơi thiên đình...Bên trong tiền đình, trên các xà ngang được chạm trổ các đề tài dơi, đào, hoa, lá biểu trưng cho phước thọ, trường tồn.
+ Chánh điện
Phần Chánh điện chiếm diện tích 487,5m2. Tượng Trần Thượng Xuyên uy nghiêm ngự trên ngai sơn son thếp vàng được đặt trang trọng giữa chánh điện. Nơi đây có những hàng cột gỗ lim to, những cặp chim trĩ, loan, phượng... bằng đồng đứng chầu, cùng bộ bát bửu cũng bằng đồng đặt thẳng hai bên hàng trước bàn thờ thần làm tăng thêm sự trang nghiêm. Ngoài ra, đình còn có tổ hợp thờ thần rất phong phú: thờ bà Thiên Hậu, thờ Quan Công, Tả Ban, Hữu Ban, Tiền Hiền, Hậu Hiền, Bạch Mã Thái Giám, v.v...
+ Hậu cung
Bia ghi công Trần Thượng Xuyên trước đình Tân Lân.
Hậu cung 120m2, có bốn hàng tám cột, khung và vì kèo bằng gỗ không trang trí, hai mái lợp ngói âm dương, trên bờ nóc có gắn tượng rồng chầu pháp lam, hai bên có đôi cá chép và lân bằng gốm men xanh, nền lát gạch hoa. Chính giữa thờ Tiên sư, hai bên thờ Tiên thứ Việt Nam và Tiên thứ Trung Quốc. Ngoài ra, ngay sau Hậu cung còn có khu nhà bếp.
+ Giá trị
Đình Tân Lân với những mảng trang trí trên là sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn với yếu tố kiến trúc nghệ thuật đặc trưng vùng Hoa Nam (Trung Quốc).
Hiện nay, đình Tân Lân còn lưu giữ sắc thần của vua Tự Đức ngũ niên (1852) ban cho Trần Thượng Xuyên, những tài liệu Hán Nôm và những chất liệu gỗ gồm 8 tấm liễn đối, 12 tấm hoành phi và 2 bộ Bát bửu bằng đồng...
Đình Tân Lân đã được Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 457/QĐ, ngày 25 tháng 3 năm 1991.
Hàng năm, nhân dân lấy ngày Trần Thượng Xuyên mất (23 tháng 10 âm lịch) làm ngày giỗ trọng và ngày 12 đến 14 tháng 12 âm lịch, làm ngày lễ hội Kỳ yên. Di tích đình Tân Lân là một trong những địa chỉ trong tour du lịch của TP. Biên Hòa.

Củng cố
Dặn dò


BÀI 3:
NHỮNG TÍN NGƯỠNG TIÊU BIỂU KHÁC (TT)
Ổn định lớp:
Kiểm tra bài cũ:
Giảng bài mới: (Tiết 14).
2. Trần Thượng Xuyên :
Trần Thượng Xuyên (陳上川) tự Trần Thắng Tài (1655 – 1720), quê ở làng Ngũ Giáp Điền Thủ, huyện Ngô Xuyên, phủ Cao Châu (Giao Châu), tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc),nguyên là tổng binh ba châu Cao - Lôi - Liêm dưới triều Minh. Ông được coi là người đầu tiên có công khai khẩn với quy mô lớn vùng đất Biên Hòa, là người được chúa Nguyễn ban danh hiệu cao quý Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt, được vua Minh Mạng, Thiệu Trị sắc phong "Thượng đẳng thần".
 Sự nghiệp
+ Thần phục chúa Nguyễn
Sách Đại Nam Thực lục Tiền biên chép:
Kỷ Mùi (1679), mùa xuân tháng giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến; Cao Lôi Liêm, tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung (Thuận An) và Đà Nẵng, tự trần là bồ thần (bề tôi mất nước, trốn ra nước ngoài) nhà Minh, không chịu làm tôi tớ nhà Thanh, nên đến xin để làm tôi tớ.
Bấy giờ bàn bạc rằng phong tục, tiếng nói của họ đều khác nhau, khó bề sai đúng, nhưng họ bị thế cùng bức bách đến đây thì không nỡ cự tuyệt. Nay đất Đông phố nước Chân Lạp phì nhiêu nghìn dặm, triều đình chưa rỗi mà kinh lý, chi bằng lấy sức của họ đến khai khẩn để ở, làm một việc mà lợi ba điều. Chúa (Nguyễn Phúc Tần) theo lời bàn, bèn sai đặt yến ủy lạo khen thưởng, trao cho quan chức đến ở đất Đông Phố.
Trước đây, năm 1673, ở Chân Lạp đã nổ ra cuộc tranh chấp quyền lực giữa một bên là hai anh em Ang Ji (Nặc Đài)-Ang Sur (Nặc Thu) và bên kia là hai bác cháu Ang Tan (Nặc Tân)-Ang Nan (Nặc Nộn). Phe Ang Tan-Ang Nan cầu cứu chúa Nguyễn Phúc Tần. Năm 1674, Ang Tan chết, ba năm sau, Ang Ji bị giết. Chúa Nguyễn giải hòa hai phe bằng cách phong cho Ang Sur làm chính vương (đóng đô ở Udong) và Ang Nan làm phó vương (đóng đô ở Prei Nokor tức Sài Gòn).
Vào thời điểm nhóm người Hoa xin tị nạn, biên giới Việt chỉ mới đến bờ trái sông Phan Rang, nên chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho người đưa thư đến Ang Nan (vị phó vương đang được chúa Nguyễn bảo vệ) yêu cầu chia cấp đất cho họ vào làm ăn sinh sống quanh vùng đất Prei Nokor (Sài Gòn) và Ang Nan đã đồng ý. Kể từ đó, nhóm Trần Thượng Xuyên đến ở vùng Kâmpéâp Srêkatrey (Biên Hòa) và nhóm Dương Ngạn Địch đến ở vùng Peam Mesar (Mỹ Tho).
Cũng theo sách Đại Nam Thực lục Tiền biên, thì:
Binh thuyền của Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa Soài Rạp đến đóng ở Mỹ Tho, binh thuyền của Thượng Xuyên và An Bình thì vào cửa Cần Giờ, đến đóng ở Bàn Lân (Biên Hòa). Họ vỡ đất hoang, dựng phố xá, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây dương, Nhật Bản, Chà Và đi lại tấp nập”.
+ Mở mang cù lao Phố
Ban đầu nhóm Trần Thượng Xuyên đến Bàn Lân (ngày nay thuộc Biên Hòa) lập nghiệp. Khi đó, vùng đất này còn là rừng rú. Vốn là người ở vùng Đông Nam Trung Quốc, thạo nghề mua bán và công nghệ, họ đã phát hiện ra Cù lao Phố, một bãi sa bồi hoang sơ nằm giữa sông Hương Phước (một đoạn của sông Đồng Nai), trải dài trên 7 dặm, bề ngang bằng 2/3 bề dài. Tuy nằm cách biển nhưng là nơi sông sâu, nước chảy, có thể ngược lên phía Bắc khai thác nguồn hàng lâm thổ sản, và phía Nam có thể ra biển Cần Giờ hay sang tận Cao Miên.
Cho nên một phần lớn nhóm người Hoa, đã chuyển từ Bàn Lân đến Cù lao Phố. Và cùng với nhóm lưu dân người Việt đến trước, Trần Thượng Xuyên và lực lượng của mình tiến hành khai khẩn quy mô lớn. Với biệt tài tổ chức, chẳng bao lâu ông đã biến vùng đất hoang sơ trở thành thương cảng, trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Gia Định, tức Nam bộ ngày nay.
Từ sự phát đạt của thương nghiệp đã lôi kéo những ngành nghề thủ công khác đến như: dệt chiếu, tơ lụa, gốm, đúc đồng, nấu đường, làm bột, đồ gỗ gia dụng, chạm khắc gỗ, đóng thuyền, làm pháo v.v...
Nhà văn Sơn Nam viết:
Vùng cù lao Phố, nòng cốt của Biên Hòa. Đây là vị trí xứng danh ải địa đầu, với đường bộ lên Cao Miên và đường thủy ăn xuống Sài Gòn. Nhóm dân Trung Hoa theo chân Trần Thượng Xuyên gây cơ sở lớn ở Cù lao Phố, chọn vị trí thuận lợi, sát mé sông. Năm măm sau khi định cư, chùa Quan đế dựng lên.Sách Đại Nam nhất thống chí mô tả:
Trần Thượng Xuyên chiêu nạp được người buôn nước Tàu, xây dựng đường phố, lầu quá đôi từng rực rỡ trên bờ sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ: nhai lớn giữa phố lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, nhai nhỏ lót đá xanh, đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to ở đây thì nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội....
Cảnh mua bán rộn rịp cũng được Trịnh Hoài Đức ghi chép lại:
Các thuyền ngoại quốc tới nơi này (Cù lao Phố) bỏ neo, mướn nhà ở, rồi kê khai các số hàng trong chuyến ấy cho các hiệu buôn trên đất liền biết. Các hiệu buôn này định giá hàng, tốt lẫn xấu, rồi bao mua tất cả, không để một món hàng nào ứ đọng. Đến ngày trở buồm về, gọi là “hồi đường”, chủ thuyền cần mua món hàng gì, cũng phải làm sẵn hóa đơn đặt hàng trước nhờ mua dùm. Như thế, khách chủ đều được tiện lợi và sổ sách phân minh. Khách chỉ việc đàn hát vui chơi, đã có nước ngọt đầy đủ, lại khỏi lo ván thuyền bị hà ăn, khi về lại chở đầy thứ hàng khác rất là thuận lợi....
Tuy nhiên, sự thịnh vượng của cù lao Phố chỉ kéo dài được 97 năm (1679-1776), bởi đã xảy ra hai sự kiện lớn:
• Năm 1747, một nhóm khách thương người Phúc Kiến qua lại buôn bán, thấy Cù lao Phố rất giàu có nên dậy lòng tham, muốn chiếm lấy để làm chỗ dung thân lâu dài. Cuộc bạo loạn do Lý Văn Quang (tự xưng là Giản Phố Đại vương) cầm đầu bị quan quân chúa Nguyễn dẹp tan nhanh chóng, nhưng Cù lao Phố cũng đã chịu nhiều thiệt hại.
• Năm 1776, quân Tây Sơn đã đến đàn áp những người Hoa ở Cù lao Phố vì họ đã ủng hộ Nguyễn Phúc Ánh. Trịnh Hoài Đức mô tả: Nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước (Gia Định thành thông chí). Bởi vậy, các thương gia người Hoa rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn (nay là Quận 5 và Quận 6, thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), sinh sống và lập những cơ sở thương mãi khác cho đến nay...
Kể từ đó, Cù lao Phố đánh mất vai trò là trung tâm thương mại của Đàng Trong mà thay vào đó là Chợ Lớn và Mỹ Tho.
+ Giữ an bờ cõi
Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.
Năm Mậu Thìn (1688), phó tướng Hoàng Tiến giết chủ tướng là Dương Ngạn Địch ở cửa biển Mỹ Tho, dời đồn sang Nan Khê (nay là sông Vàm Nao, thuộc tỉnh An Giang), đắp lũy, đúc đại bác, đóng chiến thuyền, thả quân đi cướp bóc. Vua chính nước Chân Lạp là Nặc Thu oán giận, bỏ việc triều cống và đắp ba lũy Bích Đôi, Cầu Nam và Nam Vang, rồi chằng xích sắt ngăn cửa sông, làm kế cố thủ....
Vua thứ nhì Chân Lạp là Nặc Nộn (đang đóng ở Sài Gòn) báo gấp lên chúa Nguyễn. Chúa Ngãi Nguyễn Phước Trăn nổi giận, bèn cử tướng Mai Vạn Long ở Dinh Thái Khương giả hiệp quân cùng Tiến đi đánh dẹp Nặc Thu, nhưng kỳ thực cũng để hạ Hoàng Tiến.
+ Mất
Suốt 15 năm, Trần Thượng Xuyên vừa hỗ trợ các tướng chúa Nguyễn ổn định tình hình quân sự, chính trị ở Gia Định và Chân Lạp, vừa lo mở mang buôn bán ở Cù lao Phố. Vào ngày 23 tháng 10 âm lịch năm 1720, ông mất và được an táng ở làng Mỹ Lộc, xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Trải qua mấy thế kỷ, mộ Trần Thượng Xuyên cùng các ngôi mộ của các gia tướng đều đã rất hoang tàn và rêu phong. Sau, nhờ ngành chức năng và một số các nhà nghiên cứu đến khảo sát mới xác định được đây là mộ của Trần Thượng Xuyên.
 Tưởng nhớ
Bia ghi công Trần Thượng Xuyên trước đình Tân Lân.
Trần Thượng Xuyên được lịch sử xác định là người có công lớn trong công cuộc khai phá và xây dựng vùng đất Đồng Nai-Gia Định. Công đức to lớn của ông được nhân dân ghi tạc, tôn thờ và xem ông như vị thần đã khai sáng vùng đất này.
Mặt khác, Trần Thượng Xuyên còn là một dũng tướng thao lược của chúa Nguyễn. Ông đã nhiều lần cầm binh đánh dẹp Cao Miên, giữ an bờ cõi, mở rộng biên cương nước Việt. Chính vì vậy, chúa Nguyễn đã ban danh hiệu cao quý Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị đều phong ông làm “Thượng đẳng thần”.
Để tỏ lòng ngưỡng mộ và đền đáp công ơn người đã có công tổ chức khai phá, mở mang vùng đất Đồng Nai-Gia Định, nhân dân ở những nơi này gọi Trần Thượng Xuyên là "Đức Ông" và đều có lập đền thờ ông. Trong số ấy có Đình Tân Lân (Xóm Mới) ở Biên Hòa, nơi thờ chính tướng Trần Thượng Xuyên, đã được Bộ Văn hóa -Thông tin-Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 457/QĐ, ngày 25 tháng 3 năm 1991. Ngoài ra, Đình Minh Hương Gia Thạnh ở quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cũng có gian thờ ông.
Củng cố
Dặn dò

BÀI 3:
NHỮNG TÍN NGƯỠNG TIÊU BIỂU KHÁC (Tiếp theo) (10 Tiết).
Ổn đỊnh lớp
Kiểm tra bài cũ
Giảng bài mới (Tiết 15)
X. Nguyễn Hữu Cảnh
Theo sử liệu, Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Ninh trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng dụng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất Đàng Trong suốt thế kỷ XVIII. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời (nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi).
Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu.
Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh là một công trình kiến trúc cổ được xây dựng cách đây khoảng 300 năm, tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Đây là một công trình thờ tự chính thức được xây dựng đầu tiên ở đất Đồng Nai vào năm 1700.
Được biết, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Đền thờ này đã được các chúa Nguyễn trùng tu hai lần vào các năm 1802 và năm 1851. Năm 1923, đền được tái thiết và năm 1960 lại tiếp tục được trùng tu nên ngôi đền mới được khang trang như ngày nay. Mặt đền nhìn ra sông Đồng Nai theo hướng tây nam, sân đền rộng. Mặt trước đền có gắn đôi rồng chầu làm bằng gốm men xanh, hai bên là cặp lân. Hàng cột mặt tiền đắp rồng cuốn mây có đôi liễn chữ nho khắc chìm vào tường.
Năm 1998, Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai đã xây dựng nhà bia ghi lại lịch sử 300 năm của vùng đất Biên Hòa Đồng Nai trong khuôn viên của đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Ngày 16-5 và ngày 11-1 âm lịch hằng năm, nhân dân địa phương tổ chức tế lễ, cầu cho quốc thái dân an và tưởng nhớ đến công đức to lớn của bậc tiền nhân có công khẩn hoang, xác lập nền hành chính tại vùng đất phương Nam.
Thượng đẳng thần Nguyễn Hữu Cảnh xứng đáng được tôn vinh là người có công đức trong công cuộc khai phá, mở mang và xây dựng vùng đất phía Nam Tổ quốc, nên đền thờ ông đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích cấp quốc gia vào ngày 25-3-1991.
Củng cố
Dặn dò

CHƯƠNG II: TÔN GIÁO

Bài 1:
Nhập môn Tôn giáo học (5 tiết)

I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂN TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 1)
1. Khái niệm Tôn giáo
1.1 . Khái niệm tôn giáo
- Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”.
- Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên”.
- Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”.
- Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”.
- Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …”
1.2 . Tôn giáo là gì?
- Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình. - Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để mà yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải.
Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 1:
Nhập môn Tôn giáo học (Tiếp theo)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂN TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 2)
2. Lịch sử hình thành thuật ngữ “Tôn giáo”
- “Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài vào từ cuối thế kỷ XIX. Xét về nội dung, thuật ngữ Tôn giáo khó có thể hàm chứa được tất cả nội dung đầy đủ của nó từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây.
- Thuật ngữ “Tôn giáo” vốn có nguồn gốc từ phương Tây và bản thân nó cũng có một quá trình biến đổi nội dung và khi khái niệm này trở thành phổ quát trên toàn thế giới thì lại vấp phải những khái niệm truyền thống không tương ứng của những cư dân thuộc các nền văn minh khác, vì vậy trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới.
- “Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng Anh) và“religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Vào đầu công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên lúc này khái niệm “religion” chỉ mới là riêng của đạo Kitô. Bởi lẽ, đương thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo. Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành - tách ra từ Công giáo – trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu, “religion” mới trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa. Với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới.
- Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tôn giáo” đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVIII vào sau đó du nhập vào Trung Hoa. Tuy nhiên, ở Trung Hoa, vào thế kỷ XIII, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa hoàn toàn khác: nó nhằm chỉ đạo Phật (Giáo: đó là lời thuyết giảng của Đức Phật, Tông: lời của các đệ tử Đức Phật).
- Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX và được đăng trên các báo, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”.

Như vậy, thuật ngữ tôn giáo ban đầu được sử dụng ở châu Âu nhằm chỉ một tôn giáo sau đó thuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo.

IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 1:
Nhập môn Tôn giáo học (Tiếp theo)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂN TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 3)
3. Một số thuật ngữ tương đồng với tôn giáo
Tôn giáo là một từ phương Tây. Trước khi du nhập vào Việt Nam, tại Việt Nam cũng có những từ tương đồng với nó. Đó là:
- Đạo: từ này xuất xứ từ Trung Hoa, tuy nhiên “đạo” không hẳn đồng nghĩa với tôn giáo vì bản thân từ đạo cũng có thể có ý nghĩa phi tôn giáo. “Đạo” có thể hiểu là con đường, học thuyết. Mặt khác, “đạo” cũng có thể hiểu là cách ứng xử làm người: đạo vợ chồng, đạo cha con, đạo thầy trò… Vì vậy khi sử dụng từ “đạo” với ý nghĩa tôn giáo thường phải đặt tên tôn giáo đó sau “đạo”. Ví dụ: đạo Phật, đạo Kitô…
- Giáo: từ này có ý nghĩa tôn giáo khi nó đứng sau tên một tôn giáo cụ thể. Chẳng hạn: Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo… “Giáo” ở đây là giáo hóa, dạy bảo theo đạo lý của tôn giáo. Tuy nhiên “giáo” ở đây cũng có thể được hiểu với nghia phi tôn giáo là lời dạy của thầy dạy học. Cần chú ý rằng người ta không sử dụng từ “giáo” đối với tôn giáo mới phát sinh như Cao đài, Hòa Hảo…
- Thờ: đây có lẽ là từ thuần Việt cổ nhất. Thờ có ý bao hàm một hành động biểu thị sự sùng kính một đấng siêu linh: thần thánh, tổ tiên… đồng thời có ý nghĩa như cách ứng xử với bề trên cho phải đạo như thờ vua, thờ cha mẹ, thờ thầy hay một người nào đó mà mình mang ơn… Thờ thường đi đôi với cúng, cúng cũng có nhiều nghĩa: vừa mang tính tôn giáo, vừa mang tính thế tục. Cúng theo ý nghĩa tôn giáo có thể hiểu là tế, là tiến dâng, là cung phụng, là vật hiến tế… Ở Việt Nam, cúng có nghĩa là dâng lễ vật cho các đấng siêu linh, cho người đã khuất nhưng cúng với ý nghĩa trần tục cũng có nghĩa là đóng góp cho việc công ích, việc từ thiện… Tuy nhiên, từ ghép “thờ cúng” chỉ dành riêng cho các hành vi và nội dung tôn giáo. Đối với người Việt, tôn giáo theo thuật ngữ thuần Việt là thờ hay thờ cúng hoặc theo các từ gốc Hán đã trở thành phổ biến là đạo, là giáo. Còn thuật ngữ tôn giáo trong sinh hoạt đời thường ít dùng.
4. Bản chất
- Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó. Việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi câu hỏi này được đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt. Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX.
- Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ…
- Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới thực và hư, của hai tính thiêng và tục và giữa chúng không có sự tách bạch.
Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph. Ăng nghen đã có một nhận xét làm cho chúng ta thấy rõ bản chất của tôn giáo như sau: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.”.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 1:
Nhập môn Tôn giáo học (Tiếp theo)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 4)
5. Nguồn gốc của tôn giáo
Vấn đề nguồn gốc của tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tôn giáo học mácxít. Nhờ vạch ra được nguyên nhân xuất hiện và tồn tại của hiện tượng nào đó mà sự giải thích nó mới mang tính khoa học. Đối với hiện tượng tôn giáo cũng vậy.
V. I. Lênin đã gọi toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện tất yếu làm nảy sinh niềm tin tôn giáo là những nguồn gốc của tôn giáo.
Nguồn gốc đó bao gồm:
a. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo. Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với con người
 Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
Tôn giáo học mácxít cho rằng sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Như chúng ta đã biết, mối quan hệ của con người với tự nhiên thực hiện thông qua những phương tiện và công cụ lao động mà con người có. Những công cụ và phương tiện càng kém phát triển bao nhiêu thì con người càng yếu đuối trước giới tự nhiên bấy nhiêu và những lực lượng tự nhiên càng thống trị con người mạnh bấy nhiêu. Sự bất lực của con người nguyên thủy trong cuộc đấu tranh với giới tự nhiên là do sự hạn chế, sự yếu kém của các phương tiện tác động thực tế của họ vào thế giới xung quanh. Khi không đủ phương tiện, công cụ để đảm bảo kết quả, mong muốn trong lao động, người nguyên thủy đã tìm đến phương tiện tưởng tượng hư ảo, nghĩa là tìm đến tôn giáo. F. Ăngghen nhấn mạnh rằng tôn giáo trong xã hội nguyên thủy xuất hiện do kết quả phát triển thấp của trình độ lực lượng sản xuất. Trình độ thấp của sự phát triển sản xuất đã làm cho con người không có khả năng nắm được một cách thực tiễn các lực lượng tự nhiên. Thế giới bao quanh người nguyên thủy đã trở thành cái thù địch, bí hiểm, hùng hậu đối với họ. Chúng ta cần thấy rằng, sự thống trị của tự nhiên đối với con người không phải được quyết định bởi những thuộc tính và quy luật của giới tự nhiên, mà quyết định bởi mối tính chất mối quan hệ của con người với tự nhiên, nghĩa là bởi sự phát triển kém của lực lượng sản xuất xã hội, mà trước hết là công cụ lao động.
Như vậy, không phải bản thân giới tự nhiên sinh ra tôn giáo, mà là mối quan hệ đặc thù của con người với giới tự nhiên, do trình độ sản xuất quyết định. Đây là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo.
Nhờ hoàn thiện những phương tiện lao động và toàn bộ hệ thống sản xuất vật chất mà con người ngày càng nắm được lực lượng tự nhiên nhiều hơn, càng ít phụ thuộc một cách mù quáng vào nó, do đó dần dần khắc phục được một trong những nguồn gốc quan trọng của tôn giáo.
 Mối quan hệ giữa người và người
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo còn bao gồm cả phạm vi các mối quan hệ giữa con người với nhau, nghĩa là bao gồm các mối quan hệ xã hội, trong đó có hai yếu tố giữ vai trò quyết định là tính tự phát của sự phát triển xã hội và ách áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người.
Trong tất cả các hình thái kinh tế - xã hội trước hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, những mối quan hệ xã hội đã phát triển một cách tự phát. Những quy luật phát triển của xã hội biểu hiện như là những lực lượng mù quáng, trói buộc con người và ảnh hưởng quyết định đến số phận của họ. Những lực lượng đó trong ý thức con người được thần thánh hoá và mang hình thức của những lực lượng siêu nhiên. Đây là một trong những nguồn gốc xã hội chủ yếu của tôn giáo.
Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, sự áp bức giai cấp, chế độ bóc lột là một nhân tố quan trọng làm nảy sinh tôn giáo.
Người nô lệ, người nông nô, người vô sản mất tự do không phải chỉ là sự tác động của lực lượng xã hội mù quáng mà họ không thể kiểm soát được, mà còn bị bần cùng cả về mặt kinh tế, bị áp bức cả về mặt chính trị, bị tước đoạt những phương tiện và khả năng phát triển tinh thần. Quần chúng không thể tìm ra lối thoát hiện thực khỏi sự kìm kẹp và áp bức trên trái đất, nhưng họ đã tìm ra lối thoát đó ở trên trời, ở thế giới bên kia.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ


Bài 1:
Nhập môn Tôn giáo học (Tiếp theo)

I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 5)
5. Nguồn gốc của tôn giáo
b. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Trước hết, lịch sử nhận thức của con người là một quá trình từ thấp đến cao, trong đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận thức tự nhiên cảm tính. Ở giai đoạn nhận thức này (nhất là đối với cảm giác và tri giác), con người chưa thể sáng tạo ra tôn giáo, bởi vì tôn giáo với tư cách là ý thức, là niềm tin bao giờ cũng gắn với cái siêu nhiên, thần thánh, mà nhận thức trực quan cảm tính thì chưa thể tạo ra cái siêu nhiên thần thánh được. Như vậy, tôn giáo chỉ có thể ra đời khi con người đã đạt tới một trình độ nhận thức nhất định. Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên kia… là sản phẩm của những biểu tượng, sự trừu tượng hoá, sự khái quát dưới dạng hư ảo. Nói như vậy có nghĩa là tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một trình độ nhận thức nhất định, đồng thời nó phải gắn với sự tự ý thức của con người về bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi chưa biết tự ý thức, con người cũng chưa nhận thức được sự bất lực của mình trước sức mạnh của thế giới bên ngoài, do đó con người chưa có nhu cầu sáng tạo ra tôn giáo để bù đắp cho sự bất lực ấy.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức. Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống nhất một cách biện chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan. Những hình thức phản ánh thế giới hiện thực càng đa dạng, phong phú bao nhiêu thì con người càng có khả năng nhận thức thế giới xung quanh sâu sắc và đầy đủ bấy nhiêu. Nhưng mỗi một hình thức mới của sự phản ánh không những tạo ra những khả năng mới để nhận thức thế giới sâu sắc hơn mà còn tạo ra khả năng “xa rời” hiện thực, phản ánh sai lầm nó. Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm chính là sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến nó thành cái không còn nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”, nghĩa là cái siêu nhiên thần thánh.
c. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự ra đời của tôn giáo. Họ đã đưa ra luận điểm” “Sự sợ hãi sinh ra thần thánh”.
Các nhà duy vật cận đại đã phát triển tư tưởng của các nhà duy vật cổ đại - đặc biệt là L.Phơbách – và cho rằng nguồn gốc đó không chỉ bao gồm những tình cảm tiêu cực (sự lệ thuộc, sợ hãi, không thoả mãn, đau khổ, cô đơn...) mà cả những tình cảm tích cực (niềm vui, sự thoả mãn, tình yêu, sự kính trọng...), không chỉ tình cảm, mà cả những điều mong muốn, ước vọng, nhu cầu khắc phục những tình cảm tiêu cực, muốn được đền bù hư ảo.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm lý của tôn giáo khác về nguyên tắc so với các nhà duy vật trước đó. Nếu như các nhà duy vật trước Mác gắn nguyên nhân xuất hiện tôn giáo với sự sợ hãi trước lực lượng tự nhiên thì chủ nghĩa Mác lần đầu tiên vạch được nguồn gốc xã hội của sự sợ hãi đó.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 2:
Lịch sử hình thành tôn giáo và một số hình thức tôn giáo trong lịch sử (2 Tiết )
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 6)
1 . Lịch sử hình thành tôn giáo
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội. Đặc điểm quan trọng trong ý thức tôn giáo là một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội. Mặt khác, nó lại có xu hướng phản kháng lại xã hội đã sản sinh ra và nuôi dưỡng nó. Vì vậy, từ khi ra đời đến nay, cùng với sự biến đổi của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo.
Với những thành tựu to lớn của ngành khảo cổ học, người ta đã chứng minh được sự tồn tại của con người cách đây hàng triệu năm (từ 4 – 6 triệu năm). Tuy nhiên, với những hiện vật thu được người ta khẳng định: có đến hàng triệu năm con người không hề biết đến tôn giáo. Bởi vì tôn giáo đòi hỏi tương ứng với nó là một trình độ nhận thức cao, nó là sản phẩm của tư duy trừu tượng trong một đời sống xã hội ổn định.
Hầu hết trong giới khoa học đều thống nhất rằng chỉ khi con người hiện đại – người khôn ngoan (Homo Sapiens) – hình thành và tổ chức thành xã hội, tôn giáo mới xuất hiện. Thời kỳ này cách đây khoảng 95.000 – 35.000 năm. Tuy nhiên trong thời kỳ đầu mới chỉ là các tín hiệu đầu tiên. Đa số các nhà khoa học đều khẳng định tôn giáo ra đời khoảng 45.000 năm trước đây với những hình thức tôn giáo sơ khai như đạo Vật tổ (Tôtem), Ma thuật và Tang lễ… đây là thời kỳ tương ứng với thời kỳ đồ đá cũ.
Bước sang thời kỳ đồ đá giữa, con người chuyển dần từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt và chăn nuôi, các hình thức tôn giáo dân tộc ra đời với sự thiêng liêng hóa các nguồn lợi của con người trong sản xuất và cuộc sống: thần Lúa, thần Khoai, thần Sông… hoặc tôn thờ các biểu tượng của sự sinh sôi (thờ giống cái, hình ảnh phụ nữ, phồn thực…), đó là các vị thần của các thị tộc Mẫu hệ. Khi đồ sắt xuất hiện, các quốc gia dân tộc ra đời nhằm mục đích phục vụ cho sự củng cố và phát triển của dân tộc. Tất cả các vị thần ấy còn tồn tại chừng nào dân tộc tạo ra vị thần ấy còn tồn tại và khi dân tộc tiêu vong, các vị thần ấy không còn nữa.
Trong thời kỳ văn minh nông nghiệp, nhiều đế chế ra đời và thâu tóm vào mình nhiều quốc gia. Do nhu cầu một tôn giáo của đế chế, những tôn giáo như Phật, Nho, Kitô, Hồi… đã xuất hiện từ trước trở thành tôn giáo của đế chế và được chấp nhận như một tôn giáo chính thống. Theo thời gian, do nội dung của các tôn giáo manh tính phổ quát, không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, với các vị thần cụ thể, với nghi thức cụ thể của một cộng đồng tộc người, dân tộc hay địa phương nhất định nên sự bành trướng của nó diễn ra thuận lợi, dễ dàng thích nghi với các dân tộc khác. Do vậy, dù được phổ biến bằng cách nào (chiến tranh hay hòa bình), các tôn giáo đó đã được các quốc gia bị lệ thuộc trực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không tự giác tiếp nhận và trên nền tảng của tôn giáo truyền thống, biến đổi thành tôn giáo riêng của quốc gia đó. Sự bành trướng kiểu như vậy diễn ra trong suốt thời kỳ văn minh công nghiệp và cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng, giữa tôn giáo khu vực hay tôn giáo thế giới vừa chung sống cạnh nhau, vừa tranh chấp xung đột nhau và không ít trường hợp, với sự ủng hộ của các thế lực quân sự, chính trị, chiến tranh tôn giáo đã xảy ra. Những tôn giáo như Kitô, Hồi do tính cực đoan của mình (chỉ coi chúa hay thánh của mình là đối tượng tôn thờ duy nhất) nên ban đầu đi đến đâu cũng khó chung sống với các tôn giáo khác đã có mặt ở đó từ trước. Còn một số tôn giáo phương Đông như Nho, Phật thì khác, chúng chấp nhận hòa đồng với các tôn giáo bản địa, có xu hướng trần tục nhiều hơn là thế giới bên kia.
Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một xã hội công nghiệp, xã hội này đòi hỏi phải có một tôn giáo năng động và tự do hơn, khó chấp nhận một tổ chức, một giáo lý với những nghi thức cứng nhắc, phức tạp. Tình trạng độc tôn của một tôn giáo trong một quốc gia đã bắt đầu chấm dứt và chấp nhận sự đa dạng trong đời sống tôn giáo. Từ đây quan niệm và sau là chính sách tự do tôn giáo ra đời, phát triển nhanh hay chậm và thể hiện khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Những yếu tố lỗi thời được huỷ bỏ hoặc tự thay đổi, thay thế để thích nghi. Với xu thế quốc tế hóa ngày càng gia tăng, việc mỗi cá nhân chỉ biết đến tôn giáo của mình đã trở nên lạc hậu. Mỗi người đều rằng trên thế gian có nhiều thánh thần, có nhiều tôn giáo. Họ bắt đầu hoài nghi và lựa chọn, thần thánh được mang ra tranh luận, bàn cãi và làm nảy sinh xu thế thế tục hoá tôn giáo và xu thế này ngày càng thắng thế.
Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa đang chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, sự nâng cao về trình độ học vấn và đặc biệt là những thành tựu của khoa học và công nghệ đã làm cho các tôn giáo ngày càng trở nên thế tục hóa kéo theo sự đa dạng trong đời sống tôn giáo. Từ đây xuất hiện các ý kiến khác nhau trong một tôn giáo và dẫn đến sự chia rẽ trong các tôn giáo một cách có tổ chức, bùng nổ các giáo phái và xuất hiện nhiều tôn giáo mới. Bản thân trong các tôn giáo khu vực và thế giới cũng có những biểu hiện khác trước: số tín đồ ngày càng tăng nhưng số tín đồ thực tế giảm, nghĩa là người ta theo đạo nhưng không hành đạo, nhiều tín đồ bỏ đạo để theo các “đạo mới”. Trong nội bộ các tôn giáo có sự chia rẽ thành những giáo phái với những tính chất cấp tiến, ôn hòa hoặc cực đoan.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ


Bài 2:
Lịch sử hình thành tôn giáo và một số hình thức tôn giáo trong lịch sử (Tiếp theo)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 7)
Một số hình thức tôn giáo trong lịch sử
 Tôn giáo trong xã hội chưa có giai cấp (Tôn giáo nguyên thủy)
Ăng nghen cho rằng tôn giáo xuất hiện từ ngay trong thời kỳ nguyên thủy, từ những quan niệm hết sức dốt nát, tối tăm, nguyên thủy của con người về bản thân mình và thiên nhiên bao quanh họ. Các tôn giáo nguyên thủy, sơ khai thể hiện niềm tin bản năng của con người và lúc ấy chưa gắn với các lợi ích về kinh tế - xã hội. Các hình thức phổ biến của tôn giáo nguyên thủy là các dạng sau:
+ Tô tem giáo (thờ vật tổ): Tô tem theo ngôn ngữ của thổ dân Bắc Mỹ nghĩa là giống loài. Đây là hình thức tôn giáo cổ xưa nhất, thể hiện niềm tin vào mối quan hệ gần gũi, huyết thống giữa một cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc) với một loài động thực vật hoăïc một đối tượng nào đó. Tô tem giáo thể hiện hình thức nhận biết đầu tiên về mối liên hệ của con người với các hiện tượng xung quanh. Chẳng hạn: một bộ lạc tồn tại được nhờ săn bắt một loài động vật nào đó dẫn đến xuất hiện một ảo tưởng về mối quan hệ giữa loài vật đó với cộng đồng người săn nó và cuối cùng con vật này lại trở thành tổ tiên chung – là một tô tem của một tập thể nào đó.
+ Ma thuật giáo : Ma thuật theo tiếng Hi lạp cổ là phép phù thủy. Đây là biểu hiện của việc người nguyên thủy tin vào khả năng tác động đến tự nhiên bằng những hành động tượng trưng (cầu khấn, phù phép, thần chú…) nghĩa là bằng con đường siêu nhiên. Nhờ các biện pháp ma thuật, người nguyên thủy cố gắng tác động đến những sự kiện và làm cho nó diễn ra theo ý mình mong muốn. Về sau, ma thuật trở thành một thành tố quan trọng không thể thiếu được của các tôn giáo phát triển. Việc thờ cúng của bất kỳ tôn giáo nào cũng phải có ma thuật (cầu nguyện, làm phép…). Tàn dư của ma thuật là các hiện tượng bói toán, tướng số ngày nay.
+ Bái vật giáo : Bái vật theo tiếng Bồ Đào Nha là bùa hộ mệnh, phép lạ. Bái vật giáo xuất hiện vào lúc mới hình thành tôn giáo và sự thờ cúng. Bái vật giáo đặt lòng tin vào những thuộc tính siêu nhiên của các vật thể như hòn đá, gốc cây, bùa, tượng… Họ cho rằng có một lực lượng siêu nhiên, thần bí trú ngụ trong vật đó. Bái vật giáo là thành tố tất yếu của sự thờ cúng tôn giáo. Đó là sự thờ cúng các tượng gỗ, cây thánh giá… hoặc lòng tin vào sức mạnh kỳ quái của các lá bùa…
+ Vật linh giáo : Là hình thức tôn giáo xuất hiện muộn hơn, khi mà ý thức của con người đã đủ khả năng hình thành nên những khái niệm. Vật linh giáo là lòng tin ở linh hồn. Lòng tin này là cơ sở quan trọng để hình thành nên quan niệm về cái siêu nhiên của người cổ xưa. Giai đoạn này đã có ảo tưởng cho rằng có hai thế giới: một thế giới tồn tại thực sự và một thế giới siêu nhiên, trong đó thế giới siêu nhiên thống trị thế giới thực tại. Thế giới siêu nhiên này của người nguyên thủy cũng đầy đủ động vật, thực vật, các đối tượng do tinh thần tưởng tượng ra và không khác biệt gì lắm so với thế giới thực tại.
 Tôn giáo trong xã hội có giai cấp
Khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện các nhà nước, quốc gia với các vùng lãnh thổ riêng biệt, tôn giáo lúc này không chỉ còn là một nhu cầu tinh thần của quần chúng mà còn là một phương tiện để giai cấp thống trị duy trì sự thống trị áp bức giai cấp và bóc lột của mình và thực hiện sự bành trướng, xâm lược vì vậy tôn giáo gắn liền với chính trị và bị dân tộc hóa. Từ đó đã dẫn đến sự xuất hiện các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới.
+ Tôn giáo dân tộc : Đặc trưng của tôn giáo dân tộc là tính chất quốc gia dân tộc của nó. Các vị thần được tạo lập mang tính quốc gia dân tộc và phạm vi quyền lực giới hạn trong phạm vi quốc gia. Thậm chí một số tôn giáo lớn cũng bị dân tộc hóa ở mỗi quốc gia và trở thành tôn giáo có tính chất quốc gia. Ví dụ Anh giáo (Thanh giáo), các dòng khác nhau của đạo Hồi…
+ Tôn giáo thế giới : Sự phát triển của các tôn giáo vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia đã hình thành nên các tôn giáo khu vực và thế giới như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo… Khác với các tôn giáo dân tộc, tôn giáo thế giới mang tính đa quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng lớn trên thế giới.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 3:
Chức năng của Tôn giáo - Tình hình diễn biến và xu thế đời sống Tôn giáo trên thế giới (3Tiết )
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 8)
1. Chức năng của tôn giáo
1.1. Chức năng đền bù hư ảo
Luận điểm nổi tiếng của C. Mác: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” đã làm nổi bật chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo. Giống như thuốc phiện, tôn giáo đã tạo ra cái vẻ bề ngoài của “sự giảm nhẹ” tạm thời những nỗi đau khổ của con người, an ủi cho những sự mất mát, thiếu hụt của con người trong cuộc sống.
Chức năng đền bù hư ảo không chỉ là chức năng chủ yếu, đặc thù mà còn là chức năng phổ biến của tôn giáo. Ở đâu có tôn giáo ở đó có chức năng đền bù hư ảo.
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó không chỉ thực hiện một chức năng mà gồm một hệ thống chức năng xã hội. Mặc dù là chức năng chủ yếu nhưng chức năng đền bù hư ảo không thể tách rời các chức năng khác của tôn giáo.
1.2. Chức năng thế giới quan
Khi phản ánh một cách hư ảo hiện thực, tôn giáo có tham vọng tạo ra một bức tranh của mình về thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người dưới một hình thức phi hiện thực. Bức tranh tôn giáo ấy bao gồm hai bộ phận: thế giới thần thánh và thế giới trần tục và trên cơ sở đó mà tôn giáo giải thích các vấn đề của tự nhiên cũng như xã hội. Sự lý giải của tôn giáo về thế giới nhằm hướng con người tới cái siêu nhiên , thần thánh, do đó nó đã xem nhẹ đời sống hiện thực. Quan niệm này có thể tác động tiêu cực đến ý thức giáo dân, đến thái độ của họ đối với xung quanh.
1.3. Chức năng điều chỉnh
Tôn giáo đã tạo ra một hệ thống các chuẩn mực, những giá trị nhằm điều chỉnh hành của những con người có đạo. Những hành vi được điều chỉnh ở đây không chỉ là những hành vi trong thờ cúng mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội của giáo dân. Vì vậy, hệ thống chuẩn mực, giá trị trong lý thuyết đạo đức và xã hội mà tôn giáo tạo ra đã ảnh hưởng quan trọng đến mọi hoạt động của con người. Tất nhiên ở đây chúng ta cần phải chú ý rằng những chuẩn mực, giá trị tôn giáo đã bị tước bỏ khá nhiều những đặc trưng khách quan và phụ thuộc vào những giá trị siêu nhiên, hư ảo.
1.4. Chức năng giao tiếp
Chức năng giao tiếp của tôn giáo thể hiện khả năng liên hệ giữa những người có chung một tín ngưỡng. Sự liên hệ (giao tiếp) được thực hiện chủ yếu trong hoạt động thờ cúng, sự giao tiếp với thánh thần được coi là sự giao tiếp tối cao. Ngoài mối liên hệ giao tiếp trong quá trình thờ cúng, giữa các giáo dân còn có sự giao tiếp ngoài tôn giáo như liên hệ kinh tế, liên hệ cuộc sống hàng ngày, liên hệ trong gia đình... Những mối liên hệ ngoài tôn giáo có thể lại củng cố, tăng cường các mối liên hệ tôn giáo của họ.
1.5. Chức năng liên kết
Trong các xã hội trước đây, tôn giáo với tư cách là bộ phận tất yếu trong cấu trúc thượng tầng đã đóng vai trò quan trọng của nhân tố liên kết xã hội, nghĩa là nhân tố làm ổn định những trật tự xã hội đang tồn tại, dựa trên những hệ thống giá trị và chuẩn mực chung của xã hội. Tuy nhiên không nên quan niệm một cách sai lầm rằng tôn giáo bao giờ cũng là nhân tố liên kết xã hội chủ yếu, bảo đảm sự thống nhất của xã hội. Sự thống nhất của xã hội trước hết được bảo đảm bởi hệ thống sản xuất vật chất xã hội chú không phải bằng cộng đồng tín ngưỡng. Hơn nữa trong những điều kiện xã hội nhất định, tôn giáo có thể biểu hiện như là ngọn cờ tư tưởng của sự chống đối lại xã hội, chống lại chế độ phản tiến bộ đương thời.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 3:
Chức năng của Tôn giáo - Tình hình diễn biến và xu thế đời sống Tôn giáo trên thế giới(Tiếp theo)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 9)
2. Tình hình diễn biến và xu thế của đời sống tôn giáo thế giới hiện nay
2.1. Khái quát tình hình, thực trạng của tôn giáo
Từ khi xuất hiện đến nay, tôn giáo luôn luôn biến động phản ánh sự biến đổi của lịch sử. Một tôn giáo có thể hưng thịnh, suy vong, thậm chí mất đi nhưng tôn giáo luôn luôn song hành cùng với đời sống của nhân loại. Tôn giáo là một hiện tượng xã hội sẽ còn tồn tại lâu dài.
Về đánh giá thực trạng của tôn giáo, có nhiều ý kiến khác nhau. Tựu trung lại có ba ý kiến sau:
+ Tôn giáo đang khủng hoảng, suy tàn: những người đánh giá theo quan niệm này cho rằng trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ.... đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân sẽ được cải thiện, tôn giáo sẽ bị suy thoái dưới nhiều hình thái khác nhau. Họ cho rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội không có tương lai
+ Tôn giáo Tây Âu suy tàn nhưng tôn giáo ở các nước khác đang phát triển: đánh giá này xuất phát từ thực tế tôn giáo ở Tây Âu. Sự suy giảm biểu hiện rõ nhất trong lĩnh vực thực hành tôn giáo: đi lễ và tuân thủ một số nghi lễ, niềm tin giảm sút (nhạt đạo thậm chí khô đạo). Tuy nhiên cũng có người chỉ thừa nhận sự suy giảm ấy chỉ diễn ra ở trung tâm châu Âu. Trong khi đó tôn giáo ở các nước khác ngoài châu Âu, đặc biệt là các nước đang phát triển
+ Tôn giáo, tín ngưỡng đang phục hồi và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, châu lục: cách đánh gia này được nhiều người thừa nhận. Thực tế là trong mấy thập kỷ gần đây, tín ngưỡng, tôn giáo đang phục hồi và phát triển ở nhiều quốc gia, châu lục. Số lượng tín đồ hiện nay chiếm khoảng 3/4 dân số trên thế giới (có số liệu là 5/6).
2.2. Nguyên nhân
Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng tôn giáo là một điều không đơn giản. Tuy nhiên có thể nêu lên một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Những mâu thuẫn về kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng gay gắt: chiến tranh lạnh kết thúc nhưng hoà bình không đến với nhân loại, trên thế giới hiện nay đang xảy ra nhiều mâu thuẫn, xung đột về chính trị, kinh tế, xã hội và cả quân sự. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn giữa các quốc gia trên thế giới và khu vực.
Trật tự thế giới đang xáo trộn, khó định trước: thế giới hai cực được thay bằng thế giới đơn cực do Mỹ chi phối và đang tiềm ẩn sự ra đời của trật tự thế giới đa cực với các cường quốc có tiềm lực mạnh về kinh tế, chính trị và quân sự...
Khủng hoảng niềm tin vào mô hình xã hội tương lai: từ khi xã hội có giai cấp và nạn bóc lột giai cấp, con người đã ước mơ về một xã hội bình đẳng, công bằng, tự do và bác ái... tôn giáo chính là sự phản ánh nguyện vọng ấy của nhân dân dù đó là sự phản ánh một cách hư ảo. Khi chủ nghĩa xã hội hiện thực xuất hiện, sự hướng về thiên đường đã chuyển sang hướng về chủ nghĩa xã hội, góp phần tạo ra sự suy giảm của tôn giáo. Tuy nhiên, khi chủ nghĩa xã hội hiện thực bị sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô trong khi chủ nghĩa tư bản không phải là lý tưởng mà con người vươn tới nên con người có thể đi tìm chỗ dựa tinh thần nơi tôn giáo
Những hậu quả tiêu cực của sự phát triển của khoa học và công nghệ mới: Cuối thế kỷ XX, nhân loại có những thành tựu kỳ diệu trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên sự phát triển ấy cũng để lại những hậu quả nặng nề mà nhân loại đang phải gánh chịu. Đó là sự suy thoái về môi trường, sinh thái như phá rừng, ô nhiễm, tầng ôzôn bị thủng, trái đất nóng dần lên... bên cạnh đó là các bệnh dịch mới xuất hiện (AIDS, SARS...) làm cho tiên tri về “nạn hồng thủy”, “ngày tận thế”...lại có dịp phát triển, làm xuất hiện nhiều tôn giáo mới...
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 3:
Chức năng của Tôn giáo - Tình hình diễn biến và xu thế đời sống Tôn giáo trên thế giới(Tiếp theo)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 10)
3. Những xu thế chủ đạo của đời sống tôn giáo
Trong đời sống tôn giáo với nhiều xu thế diễn ra đan chéo rất khó phân định. Tuy nhiên có thể quy vào 3 xu thế sau đây:
 Xu thế toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là sự mơ tưởng của tất cả các tôn giáo dù là những tôn giáo thế giới có bề dày lịch sử lâu đời hay chỉ là những hiện tượng tôn giáo mới ra đời gần đây. Như đạo Cao Đài ở Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời đã tuyên bố sẽ là tôn giáo của nhân loại.
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng sự tồn tại và phát triển của một tôn giáo phụ thuộc vào sự bành trướng của một thế lực chính trị có trong tay một tiềm lực kinh tế nhất định.
Trong thời đại ngày nay, vấn đề toàn cầu hoá tôn giáo chủ yếu phụ thuộc vào chính sách bá quyền của một số cường quốc, như gắn vấn đề nhân quyền với tự do tôn giáo cho từng quốc gia, dân tộc, tộc người và tìm cách can thiệp vào các nước không chịu đi theo con đường mà các cường quốc đã vạch ra sẵn.
Từ xu thế toàn cầu hóa dẫn đến xu thế đa dạng hóa trong tôn giáo. Điều này phản ánh được nguyên tắc của thời đại: thống nhất trong đa dạng.
Ngày nay, dân trí được nâng cao, không gian xã hội của cá nhân đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, của khu vực. Con người không chỉ tiếp cận với các tôn giáo truyền thống mà còn với các tôn giáo khác. Sự tiếp cận ấy không hề thụ động mà còn có sự phê phán, tiếp thu. Từ đó dẫn đến sự phân hóa tín đồ các tôn giáo thành 3 loại: khô đạo, nhạt đạo, đậm đạo và nảy sinh hiện tượng song hành tôn giáo trong một con người. Nghĩa là một cá nhân cùng một lúc theo nhiều tôn giáo khác nhau, ngay cả ở những nước vốn có truyền thống độc thần. Trong điều kiện đó từng tôn giáo cũng có sự phân rẽ thành các giáo phái, thậm chí có giáo lý xa lạ với giáo lý ban đầu. Nội bộ các tôn giáo bị phân rẽ thành 3 bộ phận: bộ phận toàn thống, bộ phận bảo thủ cực đoan, bộ phận ôn hòa.
 Xu thế thế tục hóa
Hướng chủ yếu của xu thế này là những hành vi nhập thế của mọi tôn giáo bằng cách tham gia vào những hoạt động trần tục phi tôn giáo như xã hội, đạo đức, giáo dục, y tế… nhằm góp phần cứu nhân độ thế.
Xu thế thế tục hóa cũng biểu hiện trong cuộc đấu tranh của bộ phận tiến bộ trong từng tôn giáo muốn xóa bỏ những điểm lỗi thời trong giáo lý, những khắt khe trong giáo luật, muốn tiến tới sự đoàn kết giữa các tín đồ các tôn giáo khác nhau.
Xu thế thế tục hóa biểu hiện ở vai trò của tôn giáo bị giảm sút, đặc biệt là ở các nước công nghiệp, nhất là ở các cư dân thành thị và tầng lớp thanh niên. Họ cho rằng cuộc sống bản thân được quyết định chủ yếu là là tự thân, ít phụ thuộc và không phụ thuộc vào thần linh.
Xu thế thế tục hóa còn biểu hiện ở chỗ con người dường như ra khỏi tôn giáo. Một số tín đồ vẫn tiến hành những nghi lễ và cầu xin, có khi còn hành hương nhưng lại không hẳn theo giáo lý hay giáo luật đã được định sẵn.
Xu thế thế tục hóa cũng có mặt trái, thể hiện rất rõ trong việc tham gia vào các hoạt động chính trị của một số tổ chức tôn giáo nhằm bảo vệ trực tiếp hay gián tiếp quyền lợi của các thế lực chính trị phản động.
 Xu thế dân tộc hóa
Biểu hiện của xu thế này là hướng trở về với tôn giáo truyền thống, phổ biến ở các nước đang phát triển, lan rộng sang cả châu Âu. Các tôn giáo dân tộc không có tính phổ quát nhưng lại gắn chặt và bền vững với từng dân tộc.
Hiện nay có hiện tượng các tôn giáo được truyền bá một cách nhanh chóng sang các quốc gia khác với nhiều cách thức khác nhau vì vậy tôn giáo dân tộc hay tôn giáo truyền thống được coi là một thứ vũ khí để bảo vệ bản săùc của dân tộc trước sự uy hiếp của các tôn giáo thế giới, thường được các thế lực chính trị sử dụng như một phương tiện để đồng hóa văn hóa, đồng thời là chỗ dựa để để các tôn giáo ngoại sinh được dân tộc hóa.

=> Tóm lại: Ba xu thế trình bày ở trên trong thực tế đan quyện vào nhau, xu thế nọ là hệ quả của xu thế kia, ta chỉ có thể phân tích rành rẽ trong từng trường hợp ở từng thời điểm, từng nơi cụ thể. Nhưng trong các xu thế ấy thì hiện nay xu thế thế tục hoá là nổi trội hơn cả và biểu hiện của nó rất phong phú và rất đa dạng.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ


Bài 4:
Những yếu tố cấu thành một Tôn giáo (2 Tiết )
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 11)
1. Tín ngưỡng hay niềm tin tôn giáo
1.1. Phân biệt thuật ngữ tín ngưỡng và tôn giáo
Đi vào mặt từ ngữ, giữa tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác biệt. Có lúc, tín ngưỡng được cho là thuật ngữ rộng hơn tôn giáo, bao trùm lên tôn giáo nhưng cũng có khi tín ngưỡng lại được coi là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành nên tôn giáo.
Trong thời gian gần đây, trên một số sách báo hoặc trong quần chúng tự phát hình thành nên sự phân biệt cấp độ các hình thái tôn giáo, coi tín ngưỡng và tôn giáo như hai cấp độ thấp cao.
Ở nước ta, trong thực tế thuật ngữ “tín ngưỡng” dùng để chỉ niềm tin tôn giáo. Các nhà nghiên cứu đều cơ bản nhất trí với nhau rằng yếu tố quyết định của một tôn giáo là đức tin hay niềm tin. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin thì các hình thái tôn giáo ra đời từ thuở sơ khai cho đến nay đều được gọi thống nhất là tôn giáo.
1.2. Niềm tin tôn giáo (hay tín ngưỡng) là gì?
Niềm tin tôn giáo là một dạng nhận thức đặc biệt, dựa trên trực giác, tạo cho con người một niềm tin có tính thiêng liêng, giúp người ta có thể nhận thức được những sự vật mà người thường không thấy được, cho ta một sức mạnh đặc biệt mang tính “thăng hoa” để tác động đến cuộc sống trần tục.
Niềm tin tôn giáo là một niềm tin có thật và chắc chắn, là niềm tin mang tính chủ quan, không cần lý giải một cách khoa học. Đó là điều kiện để con người đến với tôn giáo. Không có niềm tin này con người không thể đến được với đạo. Để có được niềm tin đó, người theo đạo cần phải có một sự hiểu biết nhất định về giáo lý, tuân thủ những hành vi, phép tắc tôn giáo... theo cách của mình.
=> Niềm tin tôn giáo có tính thiêng còn thể hiện ở những vật thể, những lời thề, những sự kiêng cữ nào đó... thậm chí còn gắn với những con người cụ thể. Ví dụ: người ta thường nói “Thần cây đa, Ma cây gạo...”, một số người được coi là thánh nhân và trở thành đối tượng được thờ cúng: Trần Hưng Đạo được coi là Đức Thánh Trần...
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 4:
Những yếu tố cấu thành một Tôn giáo(Tiếp theo)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 12)
2. Đặc điểm của niềm tin tôn giáo
Trong tín ngưỡng phải có yếu tố liên quan đến thế giới vô hình, những siêu linh mà do chính con người tưởng tượng và sáng tạo ra rồi chính chúng lại có thể chi phối tác động ngược trở lại cuộc sống con người. Đó là niềm tin vào một quyền lực siêu linh được san sẻ không đều cho những cộng đồng tôn giáo, khẳng định sự ưu ái của quyền lực đó đối với một số người và từ đó an ủi đối với thân phận của một số người khác.
Niềm tin tôn giáo phải là một niềm tin siêu lý, không dựa vào lý tính, thực nghiệm, một niềm tin được cảm nhận hoặc theo truyền thống kinh nghiệm, hoặc do tu luyện dần để khẳng định vững chắc. Đó là một niềm tin không cần chứng minh. Người ta tin để rồi tin. Tin vào những điều vĩnh hằng, tuyệt đối, một cuộc sống như ý muốn, cuộc sống bất diệt. Vì lý do đó mà nội dung Niềm tin tôn giáo phụ thuộc vào những tín điều, giáo lý của từng tôn giáo khác nhau.
Niềm tin tôn giáo có phần độc lập với việc am hiểu nội dung tôn giáo. Trong thực tế có những người không thực hành nghi thức tôn giáo có khi lại hiểu giáo lý nhiều hơn người thực hành nghi lễ tôn giáo đều đặn... Do đó không phải cứ có nhận thức giáo lý một cách vững chắc là có được niềm tin sâu sắc. E. Rousseau rất có lý khi ông cho rằng: “chính cái mơ mơ hồ hồ lại tạo dựng cho Niềm tin tôn giáo, làm cho tôn giáo tồn tại.”
Mặc dù nội dung tôn giáo có thể không thay đổi nhưng Niềm tin tôn giáo có thể thay đổi trong từng cá nhân, từng cộng đồng. Đối với con người, Niềm tin tôn giáo thay đổi theo tuổi tác, theo sức khoẻ hoặc theo những thăng trầm của cuộc sống.
=> Con người tạo ra thần thánh không chỉ để tin, không chỉ vì cảm nhận sự bất lực, kém cỏi của bản thân mà còn xuất phát từ nhu cầu muốn được bất tử trong một thế giới vĩnh hằng. Vì vậy không nên nhầm lẫn hoặc đánh đồng giữa tôn giáo với những ý thức hệ, những chủ nghĩa, những lý tưởng... trong cuộc sống đời thường.
3. Nội dung tôn giáo
Nói đến nội dung tôn giáo là đề cập đến giáo lý, kinh sách của các tôn giáo. Đó là lời kể lại bằng truyền miệng, những bí tích, tiểu sử của những bậc sáng lập trong đó thực có, hư có, liên quan đến những thần linh: thiên thần, nhiên thần, nhân thần, những linh tinh của các con vật, ma quỷ, những đối tượng đã thuộc về thế giới bên kia nhưng lại có liên quan đến một cộng đồng, một cá nhân của thế giới trần tục và được các tín đồ coi là có thực.
Nói đến nội dung tôn giáo còn là sự đề cập đến những ước nguyện, một mục đích mang tính tuyệt đối, vĩnh cửu cho cộng đồng, cho cá nhân, điều mà người trần dù có cố gắng đến mấy thì cũng không thể với tới được: đó là một thế giới cực lạc, sự bất tử của con người hay là để tránh qua một tai nạn hoặc những niềm an ủi cho vợi bớt những nỗi khổ đau của cuộc sống trần gian.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 5:
Huyền thoại và triết lý (1Tiết )
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 13)
Huyền thoại là một hình thức ra đời từ thuở nguyên sơ, là những lý giải của con người, có thể sai hoặc đúng về một hiện tượng tự nhiên hay xã hội mà bản thân con người không thể hiểu nổi và trong đó có những cái khác lạ, không giống bình thường nhưng lại có tác động đến họ. Qua một dịp tình cờ, ngẫu nhiên thì họ coi những thế lực đó như một thực thể vô hình chi phối tốt hoặc xấu đến họ từ đó dẫn đến một huyền thoại mang tính tôn giáo. Bước đầu tiên của quá trình tạo dựng huyền thoại là làm sao cho những huyền thoại đó được người đương thời coi như là sự thật và phải tin theo. Bước tiếp theo là vì tin tưởng, nội dung huyền thoại được chuyển thành nội dung một tôn giáo, kèm theo là nghi lễ. Huyền thoại đó lúc đầu có hình thức rất đơn giản, phù hợp với trình độ nhận thức, tư duy lúc đó nhưng nội dung đó có thể lại phi lý đối với tư duy người hiện đại. Huyền thoại phải được củng cố bằng lễ thức mới thành nội dung của một hình thức tôn giáo nhưng chủ yếu phải được người ta tin là có thật. Niềm tin là yếu tố quan trọng nhất để người ta lý giải những sự vật hiện tượng mà con người quan tâm như nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc con người, nguồn gốc dân tộc, tạo dựng thế giới bên kia…
Nếu nội dung các tôn giáo sơ khai với chủ yếu là các huyền thoại nhằm lý giải những nhu cầu của xã hội – bộ lạc thì đến xã hội có giai cấp, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, cùng với sự cần thiết tạo dựng những nhà nước, những quốc gia, sau nữa là các đế chế, nội dung các tôn giáo được định hình không chỉ dừng lại ở các huyền thoại mà còn là những triết lý rút ra trong đời sống thường ngày. Đó là các triết lý có hoặc không có tác giả, sau đó các nhà thần học, các triết gia bổ sung và hệ thống lại mới xây dựng nên được giáo lý. Giáo lý là hình thức hoàn thiện hơn rất nhiều so với huyền thoại. Bên cạnh đó các tôn giáo còn phải vay mượn, thêm thắt, tiếp biến những nội dung của các tôn giáo khác hay ý thức hệ khác mà nó tiếp xúc để cho phù hợp, thích nghi với thời đại, dân tộc để tồn tại. Tuy nhiên phải chú ý rằng mặc dù kinh sách của các tôn giáo (nhất là các tôn giáo lớn) có thể có rất nhiều, thậm chí đọc cả đời không hết nhưng để phục vụ hành lễ tôn giáo, kinh sách được hạn chế trong một số lượng nhất định, thích hợp với trình độ của các tín đồ trong đó kinh sách được diễn giải súc tích, tóm gọn những nguyên lý cơ bản.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ


Bài 6:
Thế giới bên kia (1 Tiết )
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 14)
Những yếu tố cấu thành nên nội dung của tôn giáo cho dù ở hình thức sơ khai hay đã phát triển đều không nhằm ngoài mục đích tạo dựng nên một thế giới bên kia đối lập với thế giới trần tục. Thế giới được tạo dựng này nhằm thỏa mãn một câu hỏi mà nếu không viện đến tôn giáo thì không ai có thể trả lời được: sau cái chết là gì? Câu hỏi này đã làm bừng lên một tia hi vọng muốn kéo dài cuộc sống quá ngắn ngủi, đầy khổ đau và không toại nguyện để đến với một cuộc sống cực lạc, vĩnh cửu của thế giới bên kia và điều đó đồng nghĩa với việc không bị rơi xuống địa ngục, vào tay quỷ dữ bị hành hạ, đau đớn… tùy theo quan niệm của từng tôn giáo. Vì lẽ đó, thế giới bên kia với những sức mạnh của thần linh hướng con người đến một cuộc sống tự thân lương thiện. Mọi tội ác của con người gây ra ở trần gian sẽ bị phán xử khi bước qua thế giới ấy.
Mỗi dân tộc hay mỗi khu vực tạo ra một bộ mặt của thế giới bên kia cơ bản có thể giống nhau nhưng biểu hiện lại khác nhau. Các tôn giáo lớn xuất hiện muộn hơn đã nhào nặn, hệ thống lại để tạo nên thế giới bên kia phù hợp với điện thần của mình. Thông thường thế giới bên kia được cấu trúc thành 3 tầng (ở trên trời, trên mặt đất và dưới mặt đất) và bốn thế giới (thiên giới, địa giới, thủy giới và âm phủ). “Địa ngục” là nơi đày ải những kẻ không ngoan đạo, những người ngoan đạo và lương thiện được lên “thiên đàng” hay “niết bàn”…
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 7:
Các hành vi tôn giáo (Nghi lễ, 3 Tiết )
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 15)
1. Sự thờ cúng
Bất kỳ tôn giáo nào muốn tồn tại phải có những hành vi thờ cúng và hành vi này liên quan đến niềm tin, giáo lý và được thực hiện bởi các chức sắc, những người làm nghi lễ tôn giáo chuyên nghiệp hoặc tự thực hiện dưới sự chỉ dẫn của một nguyên lý và nội dung nhất định.
Hành vi thờ cúng có thể được thực hiện bằng tự cá nhân hoặc dưới hình thức cộng đồng. Những hành vi tôn giáo đó thường được gọi là nghi lễ hay lễ thức. Nghi lễ là mối quan hệ của các thực thể ở thế giới bên kia với cuộc sống trần gian của của cộng đồng và cá nhân, nó làm cho nội dung giáo lý tôn giáo trở nên sống động, phổ quát qua thực hành hành vi tôn giáo
Cần phân biệt rõ ràng giữa 2 loại nghi lễ: Nghi lễ tôn giáo và nghi lễ thế tục cho dù trong thực tế có lúc khó mà phân biệt rạch ròi giữa hai loại nghi lễ này. Tuy nhiên những nghi lễ tôn giáo thường đi song song với một hành vi thế tục như sự ra đời, sự trưởng thành, sự chết chóc hay những tai nạn, thiên tai…
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ


Bài 7:
Các hành vi tôn giáo (Nghi lễ Tiếp theo)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 16)
2. Các loại nghi lễ
Nghi lễ có tầm quan trọng rất lớn đối với các tín đồ. Nếu huyền thoại hay giáo lý thu hút con người ta bằng lời thì nghi lễ làm phong phú thêm lời nói bằng những hành vi tạo ra một trường tôn giáo – một ngôn ngữ hành động – cuốn hút con người ta không chỉ một lần mà nhiều lần, được lặp di lặp lại, nhằm tạo nên một tập quán ăn sâu vào tâm thức tôn giáo của các thành viên trong cộng đồng – một cộng đồng thống nhất và sống động.
Có nhiều loại nghi lễ nhưng có thể chia thành 3 loại sau:
- Những nghi lễ tuân thủ theo chu kỳ thời gian: đây là những nghi lễ được các tôn giáo tổ chức theo tháng, hàng năm, theo chu kỳ 10 năm, 12 năm, 100 năm…
- Những nghi lễ tuân thủ theo chu kỳ đời người: đây là những nghi lễ liên quan đến những thời kỳ chuyển tiếp của đời một con người. Những nghi lễ này có khi công khai nhưng cũng có những nghi lễ được tiến hành bí mật trong một nhóm người của một tôn giáo hoặc chỉ riêng với các tín đồ của một tôn giáo.
- Những nghi lễ riêng của từng tôn giáo : những nghi lễ này nhằm mục đích giáo dục các tín đồ hay chức sắc am hiểu giáo lý, tuân thủ giáo luật, giữ gìn phẩm chất đạo đức theo mục đích của đạo.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 7:
Các hành vi tôn giáo (Nghi lễ Tiếp theo)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 17)
3. Các biểu hiện cụ thể của nghi lễ
Đối với các tôn giáo, việc thực hiện nghi lễ có tác dụng dẫn con người đến với các đối tượng mà họ thờ cúng, ngược với nội dung tôn giáo là dẫn thế giới siêu linh đến với con người. Yêu cầu của nghi lễ là nhằm thỏa mãn một yêu cầu phi trần tục và giúp họ có một đảm bảo an toàn trong cuộc sống đạo cũng như đời. Những biểu hiện cụ thể của nghi lễ được thể hiện qua những hành vi khác nhau.
3.1. Cầu nguyện, cầu xin hay khấn lễ
Đó là hình thức cơ bản nhất diễn ra do sự thúc ép của bản thân hay theo quy định của từng tôn giáo, là hành vi thông thường, phổ biến của bất kỳ một tôn giáo nào với tư cách cá nhân hay cộng đồng. Một số tôn giáo, trong khi cầu nguyện còn kèm theo việc dâng lễ vật, thậm chí hiến sinh, có tôn giáo khi cầu nguyện còn đi đôi với những hành vi khắc kỷ, những hành động hành xác hay kiêng cữ nhằm biểu lộ đức tin.
3.2. Những sự kiêng cữ
Kiêng cữ là việc con người không được làm điều gì khác với lệ tục quy định. Những kiêng cữ này có thể là sự kiêng cữ đối với các lễ vật, thức ăn mang tính nghi lễ, đối với những người được coi là thiêng liêng. Một số kiêng cữ được áp dụng trong thời kỳ lễ hội hay trong các nghi lễ, có khi trong cả đời thường. Những sự kiêng cữ này rất đa dạng và liên quan đến hầu hết đến các lĩnh vực trong đời sống con người. Kiêng cữ là một bộ phận của hành vi tôn giáo và trong đó có nhiều biểu hiện lạc hậu, gần đây đã dần dần mất đi.
3.3. Lễ hội
Lễ hội là hoạt động quan trọng trong đời sống tôn giáo. Có thể nói rằng nếu không có thờ cúng, không có lễ hội thì không có tôn giáo. Lễ hội trước hết là sự lặp đi lặp lại trong cộng đồng nhằm khơi dậy niềm tin, gợi lên cho từng cá nhân thấy rằng mình thuộc về một cộng đồng tôn giáo hay một xã hội nhất định. Lễ hội làm cho con người thấy rằng mình không lẻ loi, thấy mình được sự đùm bọc và che chở của cộng đồng. Lễ hội có khi còn gắn với hành hương. Không một tôn giáo nào lại không có một vài nơi thiêng mà các tín đồ muốn được đến đó, chí ít là một lần trong đời. Có thể coi đây là một hình thức tổng hợp hoàn thiện nhất của hành vi tôn giáo.
Ví dụ: Người theo đạo Hồi hành hương đến thánh địa Mecca, đạo Cao Đài ở Việt Nam hành hương về tòa thánh Tây Ninh, Công giáo hành hương đến Roma…
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 8:
Tổ chức tôn giáo (3 tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 18)
1. Tổ chức tôn giáo là gì ?
Mỗi tôn giáo mang tính xã hội đều tạo nên một cộng đồng, đó là một cộng đồng có chung một nhu cầu tôn giáo. Sự tồn tại của cộng đồng tất yếu dẫn đến một tổ chức.
Tổ chức tôn giáo là một tập hợp người có thứ bậc nội bộ, theo chức năng, ít hay nhiều dựa vào quyền uy, định ra một tập hợp quy chế và chuẩn mực nội bộ được hợp thức hoá nhằm duy trì, phát triển và truyền bá giáo lý, tổ chức nghi lễ đảm bảo sự sống còn của bản thân tôn giáo.
Khi nói về tổ chức Tôn giáo cần chú ý một số vấn đề sau:
• Cần phải phân biệt giữa cộng đồng tôn giáo và tổ chức tôn giáo với tư cách là những thể chế được định ra. Đó là sự phân biệt giữa hai loại thành viên trong một cộng đồng, những chức sắc chịu trách nhiệm thực hiện thể chế trong bộ máy tổ chức tôn giáo và những tín đồ nói chung.
• Không thể dựa vào tính tổ chức mà đánh giá sự hơn kém giữa các tôn giáo. Tất nhiên tính tổ chức cao của tôn giáo có thể làm cho tôn giáo dễ được truyền bá và phát triển. Tuy nhiên yếu tố quyết định, cơ bản là tôn giáo đó có chiếm được niềm tin của cộng đồng hay không?
• Khi đề cập đến tổ chức tôn giáo thì phải kể đến một tổ chức quan trọng là giáo hội. Không một tôn giáo nào mà không có giáo hội. Giáo hội gắn bó chặt chẽ với dân tộc, có lúc nó mở rộng ra ngoài phạm vi biên giới, có lúc chỉ bao gồm một bộ phận dân tộc, có lúc nó được chỉ đạo bởi một đoàn giáo sĩ, có lúc nó lại gần như hoàn toàn không có một cơ quan chỉ đạo được chính thức giao nhiệm vụ.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 8:
Tổ chức tôn giáo(Tiếp theo)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 19)
2. Mối quan hệ tổ chức tôn giáo và cộng đồng xã hội
Giữa tổ chức tôn giáo và cộng đồng xã hội có mối quan hệ khăng khít nhưng trong những điều kiện xã hội khác nhau thì mối quan hệ ấy là khác nhau.
 Trong xã hội không có giai cấp
Tổ chức tôn giáo thường có liên quan đến cộng đồng bằng mối quan hệ đan xen, quyện chặt với cộng đồng và các tổ chức điều hành xã hội. Trong xã hội này, giữa cá nhân và cộng đồng dường như có sự hòa tan vào nhau: cá nhân là cộng đồng, cộng đồng là cá nhân. Lúc này tuy có sự phân biệt rành rẽ hai thế giới trần tục và siêu linh nhưng con người thường đắm mình vào cả hai thế giới ấy nên rất khó phân biệt.
 Trong xã hội có giai cấp
Các tổ chức tôn giáo thể hiện rất khác nhau. Một tổ chức tôn giáo có người sáng lập, có thể hữu danh, có thể vô danh hoặc được gán cho một cái tên nào đó. Những nội dung, nghi lễ dẫn đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng ban đầu phải do một người đưa ra, người đời sau làm phong phú thêm và có thể thích nghi được với thời đại.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 8:
Tổ chức tôn giáo(Tiếp theo)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 20)
3. Tính chất của các tổ chức tôn giáo
Cách thức tổ chức của các tôn giáo rất khác nhau.
Có những tôn giáo tổ chức của nó rất chặt chẽ và có hệ thống, tiêu biểu là Kitô giáo mà đến nay là Công giáo (sau hai lần phân rẽ thành Chính thống và Tin lành). Giáo hội được coi như là một nhà nước vừa là một tổ chức bộ máy điều hành từ trên xuống các địa phận, các cơ sở, vừa là một cộng đồng tôn giáo. Trong khi đó với đạo Phật, tổ chức của nó gọi là Tăng già, tổ chức không chặt chẽ bằng, quần chúng tín đồ của đạo Phật sống ngoài đời, có nhiều người không đứng trong tổ chức, có người xuất gia nhưng có người lại tu tại gia.
Trong thời gian gần đây phát triển các tổ chức có tính xã hội gắn kết với một tôn giáo. Đó là các giáo phái quyện cả việc đạo lẫn việc đời, khó tách biệt rạch ròi.
Một tổ chức tôn giáo còn bao gồm một hệ thống các đoàn thể, hội đoàn mang tính xã hội như giải trí, tu thân, luyện võ để tăng tuổi thọ, thậm chí manh tính chính trị, quân sự để buộc các tín đồ hành động, không chỉ mục đích thuần đạo mà còn vì mục đích ngoài đời.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 9:
Nho giáo (Khổng giáo1 Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 21)
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho.
Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mầu Ni, Giê-xu,... người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng tử một cách trực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép do các học trò của ông để lại. Khó khăn nữa là thời kỳ "đốt sách, chôn Nho" của nhà Tần, hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời khiến việc tìm hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử càng khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời của ông.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 10:
Đạo giáo (Lão giáo 1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 22)
Đạo giáo: Giáo lí về Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của xứ này. Nguồn gốc lịch sử được xác nhận của Đạo giáo được xem nằm ở thế kỉ thứ 4 trước CN, khi tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện. Các tên gọi khác là Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia
Đạo giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo. Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá dân tộc Trung Quốc. Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng cả ba giáo lí này đã hoà hợp thành một truyền thống. Ảnh hưởng Tam giáo trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi biên giới Trung Quốc, được truyền đến các nước Đông Nam Á lân cận như Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Tại Trung Quốc, Đạo giáo đã ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hoá học, vũ thuật và địa lí.
Vì xuất hiện dưới nhiều trạng thái khác biệt và sự khó phân ranh rõ ràng với những tôn giáo khác nên người ta không nắm được số người theo Đạo giáo. Đặc biệt có nhiều người theo Đạo giáo sinh sống tại Đài Loan, nơi nhiều trường phái Đạo gia đã lánh nạn Cách mạng văn hoá tại Trung Quốc lục địa.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 11:
Bái Hỏa giáo (1Tiết )
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 23)
Hỏa giáo (Zoroastrianism) còn được gọi là Bái hỏa giáo là một tôn giáo cổ của Ba Tư được sáng lập bởi nhà tiên tri Zarathustra, với bộ kinh chính thức là Cổ kinh Ba Tư. Đạo phát triển mạnh ỏ Iran khoảng thế kỉ 10 - 7 trước công nguyên. Sau đó, phát triển sang nhiều nước khác ở Trung Đông, Ấn Độ và Trung Hoa.
Thời kỳ đầu Hỏa giáo nhanh chóng phát triển trở thành quốc giáo của Đế quốc Ba Tư trong các triều đại Achaemenid, Arsacid và Sassanid .Trong giai đoạn này Hỏa giáo cũng lan truyền nhanh chóng sang Ấn Độ và Trung Hoa.
Vào năm 651 nhà Sassanid bị lật đổ trong cuộc chinh phạt của người Hồi giáo, kể từ đó Hỏa giáo suy yếu dần tại Ba tư trước sự bành trướng của Hồi giáo trong khu vực .
Sau cách mạng Hồi giáo tại Iran trước sự đàn áp dã man của chính quyền Hồi giáo, nhiều Parsi (tín dồ Hỏa giáo) đã di tản sang Mỹ, Úc, Ấn Độ, Pakistan ...
Hiện nay, Hỏa giáo chỉ có khoảng 190.000 tín đồ tập trung chủ yếu ở Ấn Độ (khoảng 69.601 phần đông tập trung quanh thành phố Mumbai) ngoài ra còn có một vài nhóm nhỏ phân bố ở Iran, Pakistan, Trung Á, Mỹ và Australia.
Hỏa giáo còn cho rằng thế giới gồm hai bản nguyên đối lập đấu tranh với nhau đó là:
 Thiện nguyên là hóa thân của thần quang minh Ahura Mazđa (Ahura Mazdā) hoặc Oocmut (Ormuzd)
 Ác nguyên là hóa thân của thần hắc ám Angra Mainyu (Angra Mainyu).
Trong cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, con người có thể có ý chí lựa chọn tự do, cũng có quyền quyết định vận mệnh của mình.
Tôn giáo này tin rằng, con người sau khi chết, linh hồn phải chịu sự phán xét cuối cùng của Ahura Mazđa. thần quang minh căn cứ vào lời nói và việc làm trên trần gian của con người và cho họ lên thiên đường hay vào địa ngục. Do đó, trong lúc còn sống, mọi người phải làm điều thiện, tránh điều ác, bỏ đen tối đi vào chỗ sáng. Tôn chỉ đạo đức của Hỏa giáo là: "Nghĩ điều thiện, nói điều thiện, làm điều thiện".
Hỏa giáo cho lửa là đại biểu của quang minh và điều thiện, là tượng trưng cho Ahura Mazđa, do đó có nghi lễ thờ lửa. Đồng thời có tục cấm chôn cất người chết mà để xác cho loài chim thú ăn thịt .
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 12:
Đạo Baha’i (1Tiết )
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 24)
Đạo Baha’i là một tôn giáo thế giới độc lập có những tín đồ ở khắp mọi nơi.
Bắt đầu cuộc bức hại giữa ở Ba Tư vào giữa thế kỷ 19. Baha'is tin vào đoàn kết của tất cả tôn giáo và tin rằng sứ giả của Thiên Chúa như Moses, Chúa Giê-xu và Muhammad đã được gửi vào các thời điểm khác nhau trong lịch sử với giáo lý khác nhau để phù hợp với nhu cầu thay đổi xã hội, nó còn đem lại cơ tin nhắn cùng. Không có tu sỹ trong đạo Baha’i. Những buổi họp địa phương do hội đồng tinh thần địa phương tổ chức. Buổi họp gồm có cầu nguyện, học hỏi giáo lý, thảo luận, những hoạt động xã hội, dự các ngày thánh lễ. Quan trọng hơn cả là “Lễ 19 ngày” trong đó có những buổi cầu nguyện, quản trị hội thánh và những hoạt động xã hội liên hệ.
Người Baha’i tin rằng mục đích của đời sống là hiểu biết và tôn thờ Thượng Đế, đồng thời xây dựng một nền văn minh tiến bộ không ngừng.
Các Bab của vẫn bị ẩn cho năm sau khi ông qua đời cái chết của một người tử vì đạo trước một đội bắn vào năm 1850. Cuối cùng, của Bab vẫn được bí mật tiến vào Đất Thánh. Trong một thăm của ông đến Haifa vào năm 1890, Baha'u'llah chỉ ra cho con trai của ông tại chỗ trên núi Carmel, nơi còn lại của Bab nên được đặt để phần còn lại trong một ngôi mộ Phù hợp.Ngày 28-2-2007, Ban Tôn giáo Chính phủ đã chứng nhận đăng ký hoạt động cho cộng đồng tôn giáo Baha’i Việt Nam. Đạo Baha’i du nhập vào Việt Nam đến nay khoảng hơn nửa thế kỷ.
Đạo Baha’i theo cổ ngữ Arập nghĩa là “Người noi theo ánh sáng của Thượng đế”, ra đời năm 1863 tại Ba Tư (nay là Iran). Người sáng lập đạo Baha’i là Marza Husuyri Ali Baha'u'llah (1817-1892), người có đến được báo trước bởi các Bab. Baha'u'llah được lưu đày của các nhà chức trách Thổ Nhĩ Kỳ để Acre (Akko), nơi ông đã viết giáo lý của mình và chết một cái chết thanh bình trong Bahji House.Người đứng đầu của đạo Baha’i là Đức Giám hộ. Đức Giám hộ chỉ định trên toàn thế giới có 27 vị phụ tá Giám hộ để giữ việc coi sóc các mối đạo và kêu gọi nhân loại xây dựng “toà nhà thống nhất”. Hệ thống này, các tín đồ Baha’i gọi là trụ cột thống nhất, trụ cột này giúp cho tín đồ tuân theo các giáo huấn của Marza Husuyri Ali - người sáng lập đạo. Bên cạnh hệ thống thống nhất trên, đạo Baha’i còn có một hệ thống dân chủ, đó là các hội đồng tinh thần được bầu cử bằng phiếu kín. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng tinh thần là lo việc truyền giáo, tổ chức các cuộc lễ, các lớp giáo lý, các cuộc họp, các thánh lễ, in ấn kinh sách, kiểm duyệt các ấn phẩm về đạo Baha’i, giải quyết các vấn đề liên quan tới đời sống tín đồ, bảo vệ Đức tin, nhắc nhở tín đồ trong cộng đồng tuân thủ các luật lệ tôn giáo, chính sách, pháp luật của nhà nước, tổ chức công tác từ thiện xã hội, đảm nhận vấn đề Quỹ của đạo và chỉ định các tín đồ vào các Uỷ ban đặc biệt để giúp việc cho Hội đồng. Hội đồng tinh thần của đạo Baha’i ở 3 cấp đều được bầu bằng phiếu kín, không ứng cử, đề cử. Mỗi tín đồ được ghi một danh sách gồm tín đồ đạo Baha’i trưởng thành trong cộng đồng mà mình xét thấy có đủ đức tính tốt, có khả năng và kinh nghiệm, sau khi kiểm phiếu, 9 người có số phiếu cao nhất sẽ được đắc cử vào Hội đồng tinh thần. Bên cạnh Hội đồng tinh thần 3 cấp là những nhóm cá nhân có vai trò làm cố vấn, là những người có tài năng, kinh nghiệm được chỉ định để làm tư vấn cho các Hội đồng tinh thần và các tín đồ.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 13:
Do Thái giáo (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 25)
Do Thái giáo (tiếng Hebrew יהודה, Yehudah) là một tôn giáo gắn liền với Kinh Thánh Do Thái và lịch sử dân tộc Israel, như đã được giải thích và nói rất rõ trong sách Talmud và các sách thánh khác. Do Thái giáo xem mình là mối quan hệ giao ước giữa Con cái Israel (sau này là, nhà nước Do Thái) với Thiên Chúa. Và như thế, nhiều người xem đây là tôn giáo thờ độc thần đầu tiên. Nhiều phuơng diện của Do Thái giáo tuân theo các khái niệm về đạo đức và Luật Dân sự của phuơng Tây. Do Thái giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất mà vẫn còn được thực thi cho đến ngày hôm nay, và có rất nhiều sách thánh và truyền thống của đạo này là trung tâm của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham. Như vậy, lịch sử và những luân lý đạo đức của Do Thái giáo có ảnh hưởng ít nhiều đến các tôn giáo khác, bao gồm cả Kitô giáo và Hồi giáo.
Vì đại đa số người theo Do Thái giáo là người Do Thái nên tín đồ tôn giáo này cũng còn được gọi là người Do Thái, và gọi như thế là đang nói đến nhóm tôn giáo-dân tộc, vì các lý do trong sách thánh đã xác định họ là một quốc gia, chứ không chỉ riêng những người theo đạo. Năm 2007, dân số Do Thái ước tính khoảng 13.2 triệu người, trong đó có 41% sinh sống ở Israel.
Trong Do Thái giáo hiện đại, uy quyền không được trao cho một người riêng lẻ hay một cơ quan nào cả mà nó ở trong sách thánh, giáo luật, và các thầy giảng (Rabbi) là những người diễn dịch Kinh Thánh thư Giáo luật. Theo những lời truyền của người Do Thái, Do Thái giáo khởi nguồn bằng Giao ước giữa Thiên Chúa và ông Abraham (khoảng năm 2000 trước Công nguyên), tổ phụ và quốc tổ của nhà nước Do Thái. Qua nhiều thời đại, Do Thái giáo gắn liền với rất nhiều luân lý tôn giáo, mà quan trọng nhất là đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất là đấng toàn năng, rất nhân từ, thông biết mọi sự, Người đã tạo dựng vũ trụ và tiếp tục thống trị nó. Theo tục truyền Do Thái, Thiên Chúa thiết lập giao ước với con cái Israel và hậu duệ của nó và cho chúng biết lề luật và giới răn của Người thông qua ông Moses trên Núi Sinai. Do Thái giáo trân trọng việc học hỏi Cựu ước và tuân giữ các điều răn đã ghi trong Cựu ước như đã được dẫn giải chi tiết trong sách Talmud.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 14:
Thiên Chúa giáo (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 26)
Trong tiếng Việt, thuật ngữ Thiên Chúa giáo thường được dùng để chỉ Công giáo Rôma, mặc dù Công giáo Rôma cũng như các tôn giáo theo truyền thống Áp-ra-ham đều tôn thờ chung một Thiên Chúa. Cách sử dụng giới hạn này bắt nguồn từ việc Công giáo Rôma là tôn giáo thuộc Kitô giáo được truyền bá vào Việt Nam sớm nhất.
Trong tiếng Hoa, Công giáo Rôma được gọi là Thiên Chúa giáo, với ý nghĩa "Thiên Địa chân chúa" (Chúa thật trời đất).
Thuật ngữ "Kitô giáo" (thường được người Công giáo Rôma sử dụng) hay "Cơ Đốc giáo" (thường được người Tin Lành sử dụng) được dùng để chỉ các tôn giáo khởi nguồn từ Chúa Kitô (Chúa Cơ Đốc), mặc dù cũng được dùng theo nghĩa hẹp để chỉ tôn phái của người nói.
Trong tiếng Anh, Thiên Chúa giáo có tên là Catholic (còn có nghĩa là Công Giáo, vì nghĩa gốc của nó từ tiếng Hy Lạp là "chung nhất, phổ quát").
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 15:
Tin lành (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 27)
Sự phân biệt lần thứ hai của đạo Kitô vào đầu thế kỷ XVI dẫn đến sự ra đời của đạo Tin lành. Cuộc cải cách này gắn liền với tên tuổi hai đại biểu la Máctin Luthơ (1483 – 1546) và Giăng Canvanh (1509 – 1546).
Thế kỷ XVI là thế kỷ mở đầu cho các cuộc cách mạng tư sản châu Âu. Máctin Luthơ chịu ảnh hưởng của tư tưởng tự do tư sản, phản kháng lại những quy định khắc nghiệt của của Công giáo. Ông thừa nhận Thánh kinh nhưng phủ nhận truyền thống của nhà thờ, bãi bỏ những nghi lễ phiền toái, cải cách lại ngày phục sinh của chúa, chủ trương cho phép các mục sư lấy vợ... Những tư tưởng cải cách này đã dẫn tới xung đột gay gắt quyết liệt với Toà thánh Vaticăng và dẫn đến việc ra đời một tôn giáo mới : đạo Tin Lành.
Nói chung về nội dung cơ bản của đạo Tin lành vẫn giữ nguyên như Công giáo nhưng về luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo và cơ cấu tổ chức Giáo hội có nhiều thay đổi, ảnh hưởng khá đậm nét tư tưởng dân chủ tư sản, nhấn mạnh ý chí cá nhân.
Đạo Tin lành đề cao vị trí của kinh thánh, coi đó là chuẩn mực căn bản duy nhất của đức tin và sự hành đạo. Lấy kinh thánh làm giáo lý nhưng đạo Tin lành chỉ công nhận 36 trong tổng số 46 cuốn Cựu ước. Khác với Công giáo, đạo Tin lành không coi Kinh thánh là cuốn sách chỉ có một số người (giáo sĩ) được quyền kê cứu, giảng giải mà tín đồ, giáo sĩ đạo Tin lành đều có quyền sử dụng, nói và làm theo Kinh thánh. Đạo Tin lành tin rằng Đức mẹ Maria sinh ra Chúa Giêsu một cách mầu nhiệm nhưng xem bà không phải là mẹ Thiên chúa và chỉ đồng trinh cho đến khi sinh ra Chúa. Tin có thiên sứ, các thánh tông đồ, các thánh tử vì đạo và các thánh khác nhưng không sùng bái và thờ lạy họ như trong Công giáo. Tin có Thiên đàng và Địa ngục nhưng không coi trọng đến mức dùng nó làm công cụ để khuyến khích và răn đe, trừng phạt con người.
Đạo Tin lành khá đơn giản. Đạo không thờ tranh ảnh, hình tượng cũng như di vật. Thánh ca trở thành phương tiện diễn đạt hàng đầu. Tín đồ đạo Tin lành chỉ thừa nhận hai bí tích rửa tội và thánh thể song quan niệm và cách tiến hành nghi lễ đó cũng có nhiều nội dung khác với Công giáo.
Tín đồ Tin lành xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa (Công giáo phải thông qua Linh mục). Khi xưng tội, cầu nguyện tín đồ có thể ở nhà thờ, trước đám đông để sám hối, nói lên ý nguyện một cách công khai.
Đạo Tin lành có một đặc điểm là không chấp nhận điều gì trái với Kinh thánh, không cho tín đồ thờ cúng tổ tiên, các lễ hội… là cái bị coi là khác điều chúa dạy. Vì lẽ đó những thành viên của nhiều dân tộc theo đạo Tin lành bị buộc phải từ bỏ tôn giáo, văn hóa truyền thống của dân tộc minh.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 16:
Hồi giáo (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 28)
Hồi giáo (tôn giáo của tộc người Hồi) là cách gọi của người Trung Quốc gọi đạo Islam (theo tiếng Ảrập nghĩa là phục tùng theo ý chân chủ) xuất hiện ở bán đảo Ảrập vào khoảng thế kỷ thứ VII. Ảrập Xêut là quê hương của Hồi giáo. Hồi giáo ra đời do hàng loạt nguyên nhân kinh tế, xã hội, tư tưởng gắn liền với sự chuyển biến từ chế độ công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp của các tộc người vùng Trung cận Đông và yêu cầu thống nhất các bộ lạc trong bán đảo Ảrập thành một nhà nước phong kiến thần quyền do đó cần một tôn giáo độc thần để thay thế những tôn giáo đa thần tồn tại ở đó từ trước.
Sự ra đời của Hồi giáo gắn liền với tên tuổi một người nổi tiếng là giáo chủ Mohammed (Mahomet). Mâohammed (570 – 632) là một người thuộc gia tộc Casimu ở Mecca.
Tục truyền rằng khi Mohammed được 40 tuổi (năm 610) ông một mình vào trong một hang nhỏ ớ núi Xira, ngoại thành Mecca để tu luyện và trầm ngâm suy tưởng. Trong một đêm thánh Allah (Ala – Chân chủ) đã cử thiên sứ Gabrien đến truyền đạt Thần dụ và lần đầu tiên “khải thị” cho ông chân lý của Kinh Coran khiến ông trở thành “Thánh thụ mệnh” và ông tự xưng là đã tiếp thụ sứ mệnh của chân chủ trao cho và bắt đầu truyền đạo. Đầu tiên ông bí mật truyền giáo trong số những bạn bè thân thiết và họ trở thành những tín đồ đầu tiên, về sau sự truyền đạo trở nên công khai, đối tượng mở rọâng tới quần chúng ở Mecca nhưng bị giới quý tộc đả kích và bức hại. Môhamet đã trốn được đến Yathrib (sau đổi thành Madinah – Thành phố tiên tri). Ơû đây ông phát động và tổ chức quần chúng đấu tranh và cuộc cách mạng của ông giành được thắng lợi. Sau đó ông tổ chức vũ trang cho các tín đồ (Muslim) và dùng khẩu hiệu “Chiến đấu vì Allah” và đè bẹp được giới quý tộc ở Mecca.
Cùng với việc mở rộng phạm vi truyền đạo Mohamet còn liên minh với các bộ tộc và dùng sức mạnh buộc các thế lực còn lại phải quy thuận theo Hồi giáo. Có thể nói cuộc cách mạng do Mohammed lãnh đạo là một cuộc cách mạng tôn giáo và cải cách xã hội kết hợp với nhau. Sự ra đời của Hồi giáo đã mở ra một thời kỳ lịch sử mới thống nhất trên bán đảo Ảrập.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 900 triệu tín đồ Hồi giáo có mặt ở hơn 50 quốc gia trên khắp các châu lục nhưng tập trung chủ yếu ở các nước Ảrập (trừ Li băng và Ixraen) và chiếm đại đa số ở các nước như Iran, Irắc, Pakistan, Apganistan, Thổ Nhĩ Kỳ… và một số nước vùng Trung Á và cả ở Đông nam Á (chủ yếu ở Inđonesia). Một số quốc gia tự coi mình là quốc gia Hồi giáo.
Đặc điểm giáo lý của Hồi giáo là rất đơn giản nhưng luật lệ và lễ nghi rất phức tạp và nghiêm khắc thậm chí đến mức khắt khe và nhiều khi nó vượt ra khỏi phạm vi tôn giáo và trở thành một chuẩn mực pháp lý của xã hội. Trong Hồi giáo khó thấy ranh giới giữa cái thiêng và cái tục.
Giáo lý cơ bản của Hồi giáo là Kinh Coran (Coran theo nguyên nghĩa tiếng Ảrập là “tụng đọc”) vì đó là những lời nói của Môhamet được ghi lại và những lời này do thánh Allah thông qua thiên sứ Gabrien “khải thị” cho Mohammed. Kinh Coran tổng cộng có 30 quyển, 114 chương hơn 6200 tiết (là những đoạn thơ). Nội dung Kinh Coran vô cùng phong phú đại thể bao gồm những tín ngưỡng cơ bản và chế độ tôn giáo của đạo Hồi và những ghi chép về tình hình xã hội trên bán đảo Ảrập đương thời cùng với những chính sách về chủ trương xã hội, quy phạm luân lý đạo đức…
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 17:
Cao Đài (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 29)
Đạo Cao Đài là tên gọi tắt của một tôn giáo bản địa Việt Nam, có tên đầy đủ là “Đại đạo Tam kỳ Phổ độ”. Đạo Cao Đài ra đời vào đêm Noel năm 1925 trong bối cảnh cách mạng nước ta đang bị khủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh đạo, còn chính sách cai trị thực dân Pháp đang đẩy nông dân Nam Bộ vào con đường cùng không lối thoát, trong khi các tôn giáo khác dần dần bị mất uy tín. Đó còn là hệ quả trực tiếp và điển hình của tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” (Phật – Lão – Nho), là sự hòa nhập giữa trào lưu “Thần linh học” – một hình thức mê tín của dân phương Tây với tục cầu hồn, cầu tiên của người Việt trong những năm 1924 – 1926, đã tạo nên phong trào cầu cơ – chấp bút (gọi tắt là cơ bút), khá sôi nổi ở vùng Nam Bộ. Nhu cầu lúc bấy giờ của nhân dân Nam bộ là muốn có một tôn giáo mới phù hợp với tâm trạng của họ và đạo Cao Đài ra đời đã đáp ứng được vấn đề tư tưởng tình cảm và tôn giáo của nông dân nơi đây. Vì lẽ đó ngay lập tức đạo Cao đài được đông đảo quần chúng đón nhận và được thống đốc Nam Kỳ đồng ý vào tháng 10 năm 1926. Đạo Cao đài do một số người thuộc tầng lớp trên (tư sản, địa chủ, tiểu tư sản), công chức chủ trương, ban đầu vốn là một trào lưu chính trị với mục đích thành lập đạo để tập hợp lực lượng quần chúng mà chủ yếu là nông dân chống lại sự kỳ thị, bóc lột, chèn ép của thực dân Pháp. Song sau đó trào lưu này đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo lớn tại Nam bộ cho đến tận ngày nay.
Những đệ tử đầu tiên của Cao Đài như Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, và Cao Hoài Sang đã xác nhận rằng họ đã nhận được sự "Thông Công" (thông qua dàn cơ bút) trực tiếp từ Thượng Đế, người đã ban cho họ những chỉ dẫn cụ thể để thành lập một tôn giáo mới, khởi đầu cho Kỳ Phổ Độ Thứ Ba.
Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng Đế nơi Thiên Giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 18:
Hòa Hảo (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 30)
Phật giáo Hòa Hảo ra đời ngày 15 tháng 5 năm 1939 tại làng Hòa Hảo, Châu Đốc, An Giang và phát triển chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long. Sự ra đời của Phật giáo Hòa Hảo Hảo gắn với đặc điểm tâm lý, lối sống đạo đức, tính cách, đời sống tín ngưỡng của nông dân Nam Bộ và liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội - chính trị ở đây trong khoảng thời gian hai cuộc chiến tranh thế giới. Sự ra đời này cũng là do tác động của phong trào chấn hưng Phật giáo nhất là ảnh hưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương - một nhánh của Phật giáo ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Người sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo là ông Huỳnh Phú Sổ (1920 – 1947).
Huỳnh Phú Sổ là con một gia đình địa chủ ở làng Hòa Hảo. Hồi nhỏ ông đi học và tốt nghiệp tiểu học, song do sức khỏe yếu nên ông phải bỏ học. Trong Quá trình chữa bệnh ông học được nhiều bài học thuốc nam. Sau đó ông nghiên cứu sấm Trạng Trình và tư tưởng môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật Thầy Tây An. Ông tự xưng là bậc “sinh như tri” biết được nhiều việc của quá khứ và tương lai, được gặp và thọ mệnh của Phật A Di Đà, Ngọc Hoàng Thượng đế, Phật Thích Ca, xuống trần với nhiệm vụ truyền bá tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để “chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, bể khổ về chốn Tây phương cực lạc”.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 19:
Phật giáo nam tông (1 Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 31)
Theravada còn gọi là Phật giáo nguyên thuỷ (tiếng Phạn: Sthaviravada) hay Phật giáo Nam tông, tên quen gọi là Phật giáo Tiểu thừa. Tông phái này hình thành ngay trong thế kỷ đầu tiên sau khi Thích Ca viên tịch. Chữ Theravada có nghĩa là "lời dạy của bậc trưởng thượng", do đó nhiều sách còn gọi nhóm này là Trưởng Lão bộ. Trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ III, hội đồng tham gia kết tập đã công nhận giáo pháp gọi là thuyết trưởng lão. Sau đó, người con trai của vua Asoka (A Dục) là Mahinda đã đem cả ba tạng kinh đến được Tích Lan. Ba tạng kinh đã được dịch sang tiếng Pali và các tạng kinh này trở thành nguồn kinh sử dụng của Theravada cho đến ngày nay. (Tiếng Pali tương tự như tiếng Phạn nhưng không phải là ngôn ngữ mà Thích Ca dùng để truyền giảng). Các bộ kinh chính của Theravada là Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya), Trung Bộ Kinh (Majjiima Nikaya), Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikaya), Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya), Tiểu Bộ Kinh (Khudaka Nikaya).
Chính xứ Tích Lan (Sri Lanka ngày nay) là nơi bảo tồn được truyền thống của Theravada mặc dù đạo Phật tại đó là một kế thừa từ trung tâm Ấn Độ. Phật giáo ở Ấn đã bị suy tàn và biến mất từ thế kỉ thứ 6 do việc lan tràn của Hồi giáo và Ấn Độ giáo.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 20:
Phật giáo nam tông Khmer (1 Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 32)
Phật giáo Nam tông đã trải tồn tại và phát triển 2554 năm, các Nghi lễ đều được tổ chức theo truyền thống Phật giáo và được cụ thể hóa phù hợp theo từng thời kỳ lịch sử Phật giáo nhất định và tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Nghi lễ Phật giáo Nam tông Khmer rất khác với Nghi lễ Phật giáo Bắc tông, nhưng cùng chung giáo lý. Theo dòng lịch sử, từ thế kỷ XIII, Phật giáo Nam tông là chổ dựa tinh thần của cộng đồng dân tộc Khmer.
Hiện nay, cộng đồng dân tộc Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, tại tỉnh Cà Mau nói riêng là xã hội được tổ chức theo quy mô của đạo Phật theo truyền thống Phật giáo Nam tông Khmer. Theo quan niệm chung của cộng đồng dân tộc Khmer, ngôi chùa là trung tâm văn hóa, nơi học Kinh, học chữ, học giáo lý làm người, nơi lưu giữ các pho kinh điển đạo Phật và cùng là nơi sinh hoạt văn hóa, giải trí vui chơi của chư Tăng và đồng bào tín đồ Phật tử tín đồ Phật tử, đồng bào dân tộc Khmer. Cho nên đời sống tinh thần cũng như nét văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer gắn chặt với giáo lý đạo Phật, sắc thái văn hóa mang dân tộc mang đậm dấu ấn đạo Phật, được thể hiện rõ ở các phong tục, tập quán, lối sống, phương thức ứng xử, nghệ thuật và tư duy.
Các nghi lễ mang tính trang trọng của Phật giáo Nam tông Khmer như: Phật đản, nhập hạ, ra hạ, dâng y, thọ giới, xuất gia, thọ đầu đà … Mỗi nghi thức nghi lễ đều mang ý nghĩa và tính chất khác nhau, tính truyền thống dân tộc vẫn gìn giữ và lưu truyền từ xưa đến nay. Ngoài ra các nghi thức lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer đều thể hiện theo nghi thức của đạo Phật như tết, lễ cúng trăng, cúng ông bà, đua ghe ngo … Nói chúng mọi nghi thức hội, lễ của đồng bào dân tộc Khmer đều có chư Tăng, chùa chiền hiện diện. Các nghi thức trong hội, lễ thường gắn liền với truyền thống Phật giáo nên đồng bào dân tộc Khmer luôn giữ gìn và truyền tụng cho con cháu như lễ đắp núi, đua ghe ngo, cúng trăng … Đây là một vài nét văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Khmer.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 21:
Khất sĩ (1 Tiết )
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 33)
Tiếng “Khất” có nghĩa là xin, lẽ xin là chơn lý của võ trụ, mà chúng sanh, kẻ thì xin vạn vật để nuôi thân, người thì xin các pháp để nuôi trí. Ai ai cũng đều là kẻ xin cả thảy, hoặc đi xin, hoặc đứng xin, hoặc ngồi xin, hoặc nằm xin, hoặc ở một chổ xin, hoặc đi cùng khắp xứ xin. Xin cái ác, xin điều thiện, xin đạo đức; xin quả người Trời Phật; xin vật chất, xin tinh thần; xin địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh… Đất xin nước, đất mới sống khỏi chết khô, cỏ cây xin đất nước mới sanh chồi mọc nhánh. Thú xin đất nước cỏ cây, mới có đi chạy. Người xin thú cỏ cây đất nước lửa gió, mới có nói làm. Trời xin người thú cỏ cây tứ đại, mới sanh thức trí. Phật lại xin nơi Trời người thú cỏ cây tứ đại, mới được giác chơn.
Có hai thứ xin:
 Xin vật chất (vạn vật) để nuôi thân.
 Xin tinh thần (các pháp) để nuôi trí.
Khất sĩ là quý báu nhất trong đời, là bậc hiền nhân chăm học, là bậc đủ can đảm vượt qua cõi Trời Người, vất bỏ tham sân si, diệt cắt dây ái dục, bay khỏi lục trần, lục căn đã như già chết, là bậc mà đường trần bụi, chẳng còn đáo lại để phải dính dơ, là bậc mà ít người theo được, bởi thiện căn phước đức nhơn duyên thiếu sót, và nghiệp quả chẳng chịu buông tha điều bắt phạt.
Khất sĩ có ba bậc: Thinh văn, Duyên giác, và Bồ tát
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 22:
Phật giáo bắc tông (1 Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 34)
Mahayana có tên gọi khác là Phật giáo Đại thừa. Từ thế kỉ thứ 1 TCN các tư tưởng Đại thừa đã bắt đầu xuất hiện và thuật ngữ Mahayana, hay Đại thừa, chỉ thực sự có khi nó được đề cập trong bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharma pundarika sutra). Nói chung, ý tưởng Mahayana là có xu hướng rộng rãi và tự do hơn là các phép tắc ràng buộc của Theravada.
Đến thế kỉ thứ 3 khái niệm Mahayana mới được xác định rõ ràng qua các trước tác của bồ tát Long Thọ (Nagarjuna) trong Trung Luận (hay Trung Quán Luận), chứng minh tính không của vạn vật. Các ý này đã được Long Thọ khai triển dựa trên khái niệm "Vô ngã" và "Duyên sinh" đã có từ trong các kinh điển Pali.
Đại thừa là một thể hiện của đặc tính mềm dẻo sáng tạo trong đạo Phật của các vị đạo sư để giúp cho tư tưởng Phật giáo được phổ biến một cách thích hợp hơn với thời đại. Chính vì các ưu điểm của mình mà Mahayana tồn tại và có số người tu học cao nhất.
Bên trong Đại thừa, lại có các trường phái khác như là Madhymaka, Yogacara
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 23:
Tịnh Độ Tông (1 Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 35)
Tịnh Độ Tông (Pure Land) xuất hiện vào giữa thế kỉ thứ 4 từ sự truyền bá của sư Huệ Viễn (Hui-yuan). Tư tưởng về Tịnh Độ thì có sẵn trong Phật giáo Ấn Độ nhưng tới khi sang Trung Hoa thì nó phát triển thành một tông phái. Tịnh Độ tông cũng đuợc xem là một nhánh của Đại thừa song tông này không có sự truyền thừa như các tông phái khác mà chỉ do sự đóng góp công sức để phát huy giáo lý Tịnh Độ.
Kinh điển phái này phần chính là các kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, cộng với luận Vãng sinh Tịnh độ. Theo sự tích thì Phật A Di Đà đã có phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh nào muốn vãn sinh cõi Cực Lạc. Nguyên lý của tông phái dựa vào nguyện lực (tha lực) của Phật A Di Đà và sự nhất tâm niệm danh hiệu Phật. Phương pháp tu học có 3 nguyên tắc
 Tín: Phải có niềm tin tuyệt đối rằng Phật Di Đà và Cực Lạc quốc tồn tại.
 Nguyện: Các biểu hiện về tâm, khẩu và ý phải hướng về cõi Tịnh độ và làm suy giảm các nghiệp khác bằng cách dẹp bỏ các ham muốn về vật chất, tình cảm, tư tưởng trong đời sống.
 Hành: Tập trung, tích cực và chủ động tâm khẩu ý một cách liên tục để có thể đạt trạng thái định và giải thoát.
Hình thức tu học phổ biến là: Niệm danh hiệu Phật A Di Đà, tập trung nhìn tượng Phật và quán các tướng tốt của Phật, quán tưởng đến hình ảnh Phật, hay là tập niệm Phật cho đến khi đạt tới mức vô niệm.
Đây là một trong các tông phái tương đối dễ tu học nên ở Đông và Nam Á có rất nhiều Phật tử trong vùng theo tông này, nhất là các người lớn tuổi.
Tiết 36: Tịnh độ tông Việt Nam (1 tiết)
Tịnh độ Tông được hoằng truyền và có mặt sớm nhất tại Việt Nam là vào khoảng thế kỷ thứ 11.
Trong câu chuyện về Thiền Sư Không Lộ, chúng ta thường nghe nói đến việc Ngài có tạo nên một tượng Phật A Di Đà tôn trí tại Chùa Quỳnh Lâm. Thiền Sư viên tịch vào năm 1141, nhưng trước đó trên 100 năm, tức là vào năm 1057, lại có một tượng cốt Phật A Di Đà bằng đá cao 2,5m đã được một Lang Tướng của Hoàng Đế Lý Thánh Tông tạo dựng tại núi Lạng-Kha, thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Tượng Đức Phật A Di Đà hiện nay vẫn còn tôn trí thờ phượng tại Chùa Phật Tích (nơi quê hương nầy có Chùa Thọ Vực, dự kiến giao cho Quan Âm Tu Viện Biên Hoà vào năm 2003 để giữ gìn và trùng tu).
Sự hoằng truyền pháp môn niệm Phật, Tịnh độ tông của chư Tổ bên Trung Hoa rất có ảnh hưởng đến việc tiếp nhận sự tu hành pháp môn nầy của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam. Trên đất nước Việt Nam có hàng hàng lớp lớp người tu xuất gia, tại gia đều có lập Am, Cốc, Thất riêng để tu trì niệm Phật, kiết thất lần tràng hạt niệm Phật, tinh chuyên niệm Phật, công cứ niệm Phật, kinh hành niệm Phật, kết khóa niệm Phật… tất cả đều thú hướng pháp môn tu.
Từ các bậc tổ sư như Không Lộ thế kỷ thứ mười một, đến Tổ sư Nguyên Thiều Siêu Bạch thế kỷ thứ mười tám, thuộc dòng Lâm tế thứ 33 là những bậc thiền sư trác việt, nhưng cũng hoằng truyền Tịnh độ, Ngài cũng đã vào Nam bộ khai sơn nền Phật Pháp tại Tổ đình Quốc An Kim Cang (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu), hoằng truyền Thiền Tịnh song tu, Ngài được các bậc tôn túc Trưởng lão kính tôn là Sơ tổ của Phật giáo Đàng Trong, Tổ sư viên tịch ngày 19/10/1728. Các thế hệ sau Ngài còn có Đại sư Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Minh Vật Nhất Tri hiện có long vị đang được tôn trí thờ phượng tại Kim Long Cổ Tự, xã Tân Bình, Vĩnh Cửu.
Pháp môn niệm Phật truyền đăng vào Việt Nam được chư Tăng Ni, Phật tử tiếp nhận, tham cứu tu hành, được các bậc Tổ sư tiền bối, các bậc Đại đạo sư, Tôn Túc Trưởng Lão hết lòng vượt khó soạn dịch kinh sách Phật, giảng nói về Tịnh độ, truyền bá phương pháp tu hành, như các ngài :
• Tổ Khánh Hòa
• Tổ Vĩnh Nghiêm
• Tổ Tuệ Tạng
• Tổ Huệ Quang
• Tổ Từ Phong
• Tổ Chí Thiền
• Tổ Giác Tiên
Quý ngài : - Pháp sư Bích Liên - Pháp sư Liên Tôn - Pháp sư Trí Độ - Đức Pháp Chủ Khánh Anh.
Đức Giáo Tổ Minh Đăng Quang (khai sơn Đạo Phật Khất Sĩ, nhưng các bài kinh Nhựt Tụng theo thể văn vần, các bài kinh cúng cơm Phật, bài kinh cúng quả đường, Cầu An, Cầu Siêu đều hướng chí nguyện vãng sanh Tây phương Cực lạc…).
Các bậc Đạo sư của nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử như :
• Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh (khai sơn Liên Hải Học Trường, tinh chuyên hành pháp tại chùa Vạn Đức, Vạn Hạnh, Vạn Linh dịch kinh và hoằng truyền Tịnh độ).
• Đại lão Hòa Thượng Thích Hành Trụ.
• Đại Hòa Thượng Thích Thiền Tâm (Đại Ninh).
• Đại Lão HòaThượng Thích Trí Thủ.
• Đại Hòa Thượng Thích Thiện Siêu (biên soạn sách Tịnh độ).
• Đại Hòa Thượng Thích Thiện Phước (khai sơn Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng, khai mở khóa tu Bá Nhựt Trì Danh tại Tổ Đình Linh Sơn và Nhứt Nguyên Bửu Tự).
• Sư Cụ Thích Hồng Tại (nhà học giả, trí thức Phật Giáo, thành lập Hội Phật Giáo Tịnh Độ Tông Việt Nam, dịch giả các Kinh sách Đại thừa Phương Quảng, sách Tịnh Độ).
• Ni Trưởng Thích Nữ Như Thanh (nhà dịch giả sách Phật và Tịnh Độ).
• Ni Trưởng Thích Nữ Huệ Giác (tác giả Đồng Nai Tiểu Trạch Nhất Minh Đăng, Thập Thiện Giảng Giải, Sử Yếu Tổ Đình Linh Sơn và sách Chơn Phật Tử).
Các ngài truyền đăng pháp niệm Phật, có tính cách phổ cập sâu rộng, xã hội hóa pháp môn trong đại chúng Tăng Ni, Phật Tử cả nước đều phát tín tâm, phát tâm “kiết thất”, “tịnh tu” niệm Phật, quá trình tu chứng rất có hiệu quả .
Hiện tại thì như thế, quá khứ cũng như vậy, pháp môn niệm Phật được các bậc Tổ sư, Tôn túc Trưởng lão đưa vào khóa lễ thiền môn để giúp Tăng Ni, Phật tử có phương tiện thực tập, như khóa lễ Tịnh độ tối, Công phu chiều, công phu khuya… đấy là các khóa tu của Liên hữu tu Tịnh độ. Riêng môn phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng thì Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước mở thêm khóa lễ niệm Phật vào lúc 23 giờ hằng đêm và khóa tu “Bá Nhựt Trì Danh” hằng năm.
Chúng ta có thể thấy tại miền Nam từ thập niên 30 đến 40 và đến hôm nay thì pháp môn niệm Phật được lưu truyền và rất thịnh hành. Tại huyện Long thành, Thiền sư Thích Thanh Từ hoằng truyền về Thiền Tông của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, nhưng Ngài cũng không bỏ việc hoằng truyền pháp niệm Phật.
Tại núi Dài Văn Liên, Châu Đốc, nơi có nhiều Tu sĩ chuyên tu khổ luyện, trì tịnh chú, thêm vào đó nơi nay là Thánh địa của Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo Tứ An, nhưng khoãng thời gian vào cuối thế kỷ thứ 19, cũng có một số các bậc Đại Đạo Sư hoằng truyền pháp môn niệm Phật. Trong ấy có Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức, thị tịch ở Tổ đình Thanh An, núi Sập, thọ 95 tuổi. Ngài đã hoằng truyền pháp môn niệm Phật trên 50 năm giúp cho chư Tăng Ni, Phật Tử từ miền Tây đến miền Đông, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Rạch Giá, Hà Tiên, Long Xuyên, Châu Đốc, Tiền Giang, Gò Công, Bến Tre, Hậu Giang giữ vững niềm tin tu hành không thối chuyển. Cũng chính nơi đây là nơi khai sinh môn phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng xương minh Tịnh độ .
Tiết 37: Hội Phật giáo Tịnh độ tông Việt Nam (1 tiết)
Tịnh Độ Tông Việt Nam là một Hội Phật Giáo như tất cả các Giáo Hội khác tại Việt Nam, thành lập năm 1949 và được Chính phủ (cũ) cấp phép ngày 25.12.1955. Do Cụ Đoàn Trung Còn, pháp danh Hồng Tại sáng lập và làm Hội Trưởng, Trụ sở Trung Ương trước đặt tại Chùa Giác Lâm, Chợ Lớn; sau dời về Liên Tông Tự, Đường Đề Thám, Quận Nhì, Sàigon.
Chúng tôi trình bày về Tịnh Độ Tông Việt Nam nơi đây là vì bản hoài của Đức Tôn Sư Hòa Thượng thượng Thiện hạ Phước khai sơn Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng. Ngài chỉ có một tâm niệm, một công việc hoằng dương chánh pháp, giáo hóa Tăng Ni, Phật Tử tinh chuyên tu hành, học đạo giải thoát theo pháp tu niệm Phật Tịnh Độ đặc biệt nơi núi non thâm sơn cùng cốc, không quan tâm đến việc lập Hội. Tịnh Độ Non Bồng không chủ trương có những tín điều sắp đặt trong một ý niệm về sự giải thoát, co cụm trong tổ chức như một xã hội nhỏ ở thế gian. Vì vậy khi khai đạo tại vùng núi Cổ sơn (địa danh do Đức Tôn Sư đặt tên) năm 1957, Ngài chỉ gia nhập tổ chức Hội Phật GiáoTịnh Độ Tông Việt Nam, làm phương tiện giúp cho Tăng Ni, Phật Tử thuận duyên an tâm tu học. Hơn nữa các điều khoản trong nội quy của tổ chức Phật Giáo Tịnh Độ Tông Việt Nam có một số điều khoản phù hợp truyền thống tu hành của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng trong việc thừa kế xương minh “Pháp Môn Niệm Phật” và các Nhà sư Tăng, Ni đang tu học. Chúng ta có thể đơn cử một hạnh lành nhỏ trong tư liệu Nội Quy Hội Tịnh Độ Tông, có khoản nói : “…khi muốn đóng khuôn dấu xác nhận công việc Phật sự phải niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật…” hoặc : “tỏ tình đoàn kết với các tôn giáo khác… tôn trọng những Tăng Ni tinh chuyên giới luật…” Đây là công việc nhỏ trong một số điều khoản, nhưng chính những hạnh lành nầy là pháp tu, biểu tượng ứng dụng sách tấn cho người tu Phật. (ở khoản 3 về mục đích của Giáo Hội có nói : “Thành tâm mà niệm Nam Mô A Di Đà Phật, làm mọi việc có tánh cách Tôn giáo và Từ thiện để nâng cao hạnh phúc người đời…” (trang 3). Điều IX nói về tu học Phật Pháp nghiên cứu học thuật, có nói : “Giáo Hội cũng ủng hộ sự tu hành Chánh Pháp, đề cao việc tu trì giới luật, rất kính trọng những Tu sĩ có đạo hạnh thanh tịnh, Tu Sĩ và Bổn đạo Tịnh Độ Tông sở trường về pháp môn Niệm Phật, thọ trì các kinh: A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, Qui Nguyên Trực Chỉ và các kinh điển có giảng lý Tịnh Độ. Ngoài ra người trong đạo nếu có khả năng, thì có thể tu học các kinh điển Phật Giáo, nghiên cứu sách vở học thuật văn hóa…” (trang 21, trích bản Điều Lệ Phật Giáo Tịnh Độ Tông Việt Nam).
Cụ Hội Trưởng Trung Ương Đoàn Trung Còn sinh năm 1902 tại Thắng Nhứt, thị xã Vũng Tàu, là một nhà trí thức Phật học lỗi lạc, ngoài công đức lập giáo và tư cách lãnh đạo Trung Ương Hội, Cụ còn là một nhà dịch giả, trước tác sách Phật thật uyên bác thâm sâu. Cụ rất thành công trên đường hoằng dương chánh pháp, hoằng hóa Hội Tịnh Độ. Cụ đã dịch, soạn, sáng tác trên 100 loại kinh, sách trong đó gồm có các bộ kinh Đại Thừa Phương Quãng, Pháp Hoa, Niết Bàn v.v… các loại sách Phật , Từ điển Phật học, Luật tứ phần (Tăng Đồ Nhà Phật), sách Nho giáo, Tứ thư Ngũ kinh, Đại học, Trung dung, có khả năng đủ cung cấp cho đọc giả, các học giả Tăng Ni, Phật Tử nghiên cứu tu học.
Ngoài ra, trong công cuộc truyền giáo, Cụ cũng rất quan tâm đến công đức hoằng giới giúp Tăng, Ni thọ học. Cụ thường xuyên tổ chức Tam đàn Thánh lễ, cung thỉnh các bậc Tôn túc Chư sơn, Thiền đức, như Đại lão Hòa Thượng thượng Huệ hạ Chiếu, Đại lão Hòa thượng thượng Hồng hạ Anh truyền giới cho Tăng, Ni lãnh thọ tu hành kế thế khai lai, báo Phật ân đức. Mỗi giới đàn có hàng trăm Tăng Ni trên cả Nước về Trung Ương Hội đăng ký thọ giới.
Một công đức lớn kế tiếp, tại Đại hội Tịnh Độ Tông toàn quốc vào cuối năm, ngày 09/12/1965 (17/11/Ất Tỵ), theo yêu cầu của hàng giáo phẩm Chư Tăng, Ni, các Nhà sư tu theo pháp hạnh Khất sĩ thật tu thật học, Trung Ương Hội triệu tập Hội Nghị Đại Biểu Tăng Ni toàn quốc để quyết định thành lập Đoàn Du Tăng Khất Sĩ Trung Ương. Đại hội suy cử Thượng Tọa Thích Giác Hải, Trụ Trì Phổ Minh Bửu Tự, Quận 8 giữ chức vị Tăng Trưởng Giáo Đoàn. Đoàn Du Tăng đáp ứng nhu cầu phát triển tổ chức, đồng thời cũng tạo diều kiện thuận lợi cho các Nhà Sư Du Tăng Khất Sĩ có đủ tư cách pháp nhân, pháp lý tu học hành đạo. Đòan Du Tăng Khất Sĩ Trung Ương Tịnh Độ Tông tổ chức được hai đàn truyền giới lớn : một đàn được tổ chức vào ngày 15 tháng 07 năm Đinh Mùi (20/08/1967), một đàn tổ chức vào ngày 11 tháng 7 năm Kỷ Dậu (23/08/1969), giúp cho chư Tăng Ni khắp nơi thọ học tu hành. Phật sự này giúp cho đa số nhà Du Tăng Khất Sĩ chân tu thật đức thật rất hoan hỷ tán đồng ủng hộ.
Đối với Đạo Phật Non Bồng, Cụ Hội Trưởng Trung Ương Đoàn Trung Còn cũng là Người bạn sen lớn của chư giáo phẩm Tăng Ni. Đồng thời trong hàng Cao Tăng, Thiền Đức thì Hòa Thượng Thích Thiện Phước là người tâm đắc nhất đối với Trung Ương Hội và kể cả cá nhân Cụ Hội Trưởng. Về Tăng, Ni, Bổn Đạo, Tín Đồ của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng chiếm khoãng 2/3 Hội viên Trung Ương Hội (trên 300 ngàn Hội viên Nhà sư, Bổn Đạo, Tín Đồ), vì thế trong khoãng thập niên 1960 đến 1980 khi nói đến Phật Giáo Tịnh Độ Tông Việt Nam là mọi người nghĩ đến Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước tu hành ở vùng non núi; thậm chí mọi người còn cho rằng Phật Giáo Tịnh Độ Tông là do Hòa Thượng lãnh đạo.
Tuy nhiên với nhãn quan của người sau, khi nghiên cứu văn hệ tư tưởng Phật giáo Tịnh Độ Tông của Cụ Đoàn Trung Còn như chúng tôi cũng phải nhìn nhận Cụ là người có công rất lớn trong công đức hoằng pháp lợi sanh, là nhà đại dịch giả (Cụ dịch kinh Pháp Hoa từ năm 1930) trong giới Phật Học nói chung và nói riêng trong pháp phái Phật GiáoTịnh Độ Tông tại Việt Nam .
Có điều đặc biệt là mỗi khi muốn giải quyết một vấn đề tối quan trọng của Trung Ương Hội, thì Cụ Hội Trưởng thường hay tham vấn hỏi ý kiến của Hòa Thượng Thích Thiện Phước, mặc dù Hòa Thượng không nhận một nhiệm vụ nào ở Trung Ương Hội (Đức Tôn Sư chỉ cho đệ tử tham gia).
Ngoài ra đối với Giáo Hội bạn, Cụ Đoàn Trung Còn là bạn đồng hành của Hòa Thượng Thích Huệ Thành, Tăng thống Phật giáo Cổ Truyền, Hòa Thượng Thích Thành Đạo, Hòa Thượng Thích Thiện Hào, Hòa Thượng Thích Bửu Ý… Cụ thể trong những năm 1950, 1951,1952 tại Trung Ương Hội Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật Tử, Cụ làm đệ nhất Phó Hội Trưởng Hội Lục Hòa Phật Tử.
Hầu hết Tăng, Ni của các Giáo Hội bạn rất tôn trọng Cụ, các nhà Học giả thường xuyên nghiên cứu sử dụng những công trình soạn dịch của Cụ. Những kinh sách, Kinh Pháp Hoa, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, A Di Đà Kinh, Pháp Bửu Đàn Kinh, Từ điển Phật Học, Tăng Đồ Nhà Phật, Yến Sáng Á Châu, Xứ Phật Huyền Bí… do Cụ sáng tác, dịch thuật, biên soạn trở thành những tác phẩm kiệt tác có giá trị để nghiên cứu trong các giới làm công tác biên dịch giáo lý Phật học.
Cụ Đoàn Trung Còn viên tịch ngày 30 tháng Giêng năm Mậu Thìn, nhằm ngày 17 tháng 2 năm 1988.
Để tưởng nhớ công ơn sâu dầy của Cụ, hàng Giáo Phẩm Tăng, Ni, Phật Tử Quan Âm Tu Viện, Tổ Đình Linh Sơn, Tổ Đình Thành An Tự, Nhứt Nguyên Bửu Tự, Chùa Phước Thiện An, chùa Bửu quang, chùa Thiền Tịnh, Long Sơn Cổ Tự, Phước Ân Tự cùng với Tăng, Ni, Phật Tử, đại diện trên 620 Tự Viện của hệ phái trên toàn quốc kính cẩn suy tôn giác linh Cụ lên hàng giáo phẩm Hòa Thượng để làm tiêu biểu cho hậu thế soi chung.
Kim quan nhục thân Cụ được làm lễ trà tỳ tại đài hỏa táng Nam tông Phật Giáo của Ngài Trưởng Lão Pháp Tri. Trong ngày hỏa táng nhập Tháp, Ni Trưởng Thích Nữ Huệ Giác Viện Chủ Quan Âm Tu Viện có làm bài Điếu văn để tán thán công đức của Cụ cố Hội Trưởng.
Tiết 38: Liên tông Tịnh độ Non bồng (1tiết)
HT. Thiện Phước, thế danh Lê Minh Ý (vì nạn chiến tranh Pháp- Việt nên cải danh là Lê Văn Mười), sinh năm 1924, tại Nhật Tảo, An Nhật Tân, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Cha là ông Lê Văn Đẩu, mẹ là Nguyễn Thị Hoạt.
Khoảng năm 1940-1943, Ngài phát tâm tu hành ở vùng Văn Liên, Thất Sơn, miền Tây Nam Bộ. Lúc bấy giờ Ngài có pháp danh là Thiện Phước, Vào năm 1945, Ngài tham gia hoạt động Cách Mạng để bảo vệ tổ quốc. Đến năm 1955, Ngài lên núi Dài tu học pháp môn niệm Phật với Đức Sư Ông Bửu Đức (chùa Bửu Quang, Châu Đốc). Năm 1956, vâng lời Đức Sư Ông trở về miền Đông hành đạo. Ngài đến Long Sơn Cổ Tự (huyện Tân Uyên, Bình Dương) cầu Pháp với Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Châu thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ, và được truyền thừa pháp phái đời thứ 41, húy Nhựt Ý.
Năm 1957, Ngài về trụ trì Tổ Đình Linh Sơn (nay là xã Tân Hòa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Năm 1960, Ngài thành lập cô nhi viện Phước Lộc Thọ, thu nhận trên 200 cô nhi, quả phụ và người già yếu. Đến năm 1961, Hòa Thượng thành lập Phật Học Đường Tây Phương Bồng Đảo, hội tụ được khoảng 300 Tăng Ni. Đến năm 1965, khu vực đạo tràng Tổ đình Linh Sơn bị chiến tranh tàn phá ác liệt nên Hòa Thượng cho di tản tất cả Tăng Ni và cô nhi về nhiều chùa ở miền Đông Nam Bộ. Trong những năm ở nơi đây Hòa Thượng luôn xiển dương Tịnh Độ tông và giới luật. Đến năm 1966, Ngài chỉ đạo Ni trưởng Huệ Giác, đệ tử lớn của Ngài xây dựng Quan Âm Tu Viện. Năm 1974, Hòa Thượng cùng tất cả môn đồ trong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng trở về núi Dinh. Năm 1975, sau ngày hòa bình Ngài về chùa Long Phước Thọ (huyện Long Thành) khai phá ruộng nương, cải tạo thành nhiều Ban nông thiền giúp Tăng Ni có cơ sở an tâm tu học .
Hòa Thượng chủ xướng xương minh pháp môn niệm Phật Tịnh Độ tông, khai sơn môn phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng từ năm 1960 tại Tổ đình Linh Sơn, một ngôi chùa cổ trên 200 năm; đồng thời do chính Ngài đương vi Tông chủ môn phái. Ngài dùng ba pháp Bá Nhựt trì danh niệm Phật, Lễ bái niệm Phật, phát nguyện niệm Phật làm tông chỉ giáo hóa đồ chúng tu hành. Ngày nay Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng rất thịnh hành khắp trên cả nước, hiện có 150 chùa của môn phái, 1438 Tăng Ni, trên 1.000.000 tín đồ tu học theo pháp môn.
Ngày 27/12/1978, Ngài được Trung Ương Hội Phật Giáo Tịnh Độ Tông tấn phong làm Hòa Thượng, đại biểu cho Trung Ương Giáo Hội tại miền Đông Nam Bộ. Đến năm 1980, Hòa Thượng cho khởi công xây dựng chánh điện Tổ đình Linh Sơn. Ngày 30/7/Bính Dần (1986), vì tuổi già sức yếu sau thời gian nhiệt tình phụng sự đạo pháp và dân tộc, Ngài lâm bệnh và viên tịch tại Quan Âm Tu Viện, Hòa Thượng hưởng thọ 63 tuổi, 30 năm tuổi hành đạo,
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 25:
Thiên thai giáo quán tông (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 39)
Thiên Thai tông là một tông phái Phật giáo Trung Quốc do Trí Di (538-597) sáng lập. Giáo pháp của tông phái này dựa trên kinh Diệu pháp liên hoa.
Thiên Thai tông xem Long Thụ là Sơ tổ vì ba quan điểm chính (Thiên Thai tam quán) của tông phái này dựa trên giáo lí của Long Thụ – đó là: Tất cả mọi hiện tượng dựa lên nhau mà có và thật chất của chúng là tính Không Mọi hiện tượng là biểu hiện của một thể tuyệt đối, đó là Chân như. Tông phái này gọi ba chân lí đó là không (空), giả (假) và trung (中):
Chân lí thứ nhất cho rằng mọi pháp không có một thật thể và vì vậy trống rỗng;
Chân lí thứ hai cho rằng, tuy thế, các pháp vẫn có một dạng tồn tại tạm thời với thời gian và giác quan con người có thể nắm bắt được;
Chân lí thứ ba tổng hợp hai chân lí đầu, cho rằng thể của sự vật lại không nằm ngoài tướng, không thể bỏ hiện tượng để tìm bản chất, thể và tướng là một.
Quan điểm này nhấn mạnh tính toàn thể và xuyên suốt của sự vật. Cái toàn thể và cái riêng lẻ là một. Toàn bộ các pháp có khác nhau nhưng chúng đan lồng vào nhau, cái này chứa đựng cái kia. Không, giả và trung chỉ là một và từ một mà ra.
Các Đại sư của tông phái này hay nói “toàn thể vũ trụ nằm trên đầu một hạt cải” hay “một ý niệm là ba ngàn thế giới.” Tổ thứ hai của tông này là Huệ Văn, Tổ thứ ba là Huệ Tư và Tổ thứ tư là Trí Di. Dưới sự lĩnh đạo của Đại sư Trí Di, giáo lí của tông Thiên Thai đã đạt đến tuyệt đỉnh.
Phép tu của Thiên Thai tông dựa trên phép thiền Chỉ quán, và chứa đựng các yếu tố mật tông như Chân ngôn (thần chú) và Mạn-đồ-la ). Tông này sau được Truyền Giáo Đại sư Tối Trừng (767-822), đệ tử của Tổ thứ 10 Thiên thai tông, truyền qua Nhật trong thế kỉ thứ 9. Tại đây, Thiên Thai tông đóng một vai trò quan trọng.
Thiên Thai tông được xem như một tông phái rộng rãi vì tổng hợp, chứa đựng nhiều quan điểm của các phái khác. Sự tổng hợp này phản ánh trong quan điểm “năm thời, tám giáo” (Ngũ thời bát giáo 五時八教), trong quan niệm mọi loài đều có Phật tính và vì vậy Thiên Thai tông có đầy đủ phương tiện đưa đến giác ngộ. Các bộ luận quan trọng của Thiên Thai tông là: Ma-ha chỉ quán (sa. mahā-śamatha-vipāśyanā), Lục diệu pháp môn và những bài luận của Trí Di về kinh Diệu pháp liên hoa.
Phép Chỉ quán của Thiên Thai tông có hai mặt: Chỉ là chú tâm và qua đó thấy rằng mọi pháp đều không. Nhờ đó không còn ảo giác xuất hiện. Quán giúp hành giả thấy rằng, tuy mọi pháp đều không, nhưng chúng có một dạng tồn tại tạm thời, một sự xuất hiện giả tướng và lại có một chức năng nhất định.
Trí Di phân chia kinh sách thành “năm thời và tám giáo” với mục đích hệ thống hoá Phật giáo theo trình tự thời gian và theo nội dung giáo pháp. Sự phân chia đó cũng giúp giải thích các vấn đề siêu hình. Hơn các tông phái khác, Thiên Thai tông là phái tìm cách thống nhất mọi giáo pháp trong hệ thống của mình bằng cách dành cho mọi kinh sách một chỗ đứng và xem [Tiểu thừa] cũng như Đại thừa đều là những lời dạy của chính Phật Thích-ca.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 26:
Hội Tịnh độ Cư sĩ (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 40)
Vào những năm đầu thế kỷ 20, làn sóng chấn hưng đạo Phật ở Việt Nam nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các giới Phật tử. Từ Sài Gòn, Gia Định, phong trào chấn hưng lan rộng tới các vùng nông thôn, vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một số tôn giáo mới được hình thành dưới hình thức mới, vừa hoạt động tôn giáo, vừa giúp đỡ dân nghèo. Một số tôn giáo phát triển trên nền tảng giáo lý nhà Phật, nhưng được cải tiến ngắn gọn và dễ hiểu để phù hợp với sinh hoạt và trình độ của người dân Nam bộ lúc bấy giờ. Điển hình của một trong những tôn giáo mới xuất hiện trong giai đoạn này là Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam.

Người sáng lập ra TĐCSPHVN có tộc danh là Nguyễn Văn Bồng, sinh năm Bính Tuất 1886 tại xã Tân Mỹ, tổng An Thạnh Thượng tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp). Thuở nhỏ theo Nho học, nhờ nền tảng này cộng với tư chất thông tuệ, ngài tinh thông nghề Y dược cổ truyền Việt Nam. Ở tuổi trung niên, ngài đã sớm tỏ ngộ đạo mầu. Đến khi chính thức thành lập Giáo hội năm 1934, một năm sau (1935) ngài được toàn thể giáo đồ suy tôn là Đức Tông Sư Minh-Trí, Giáo chủ TĐCSPHVN.

Trước phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà, ngài đã ứng dụng việc chuyển tải giáo lý nhà Phật qua ngôn ngữ của thơ ca, văn vần, và kinh sách dưới dạng đối đáp ngắn gọn dễ hiểu, để đi vào lòng người, để mọi người đến được với giáo lý Phật đà, đồng thời hướng mọi người vào hoạt động phước thiện để giúp đỡ người nghèo khó. Với hoạt động Phật pháp gắn với từ thiện nhơn đạo, giúp đỡ người nghèo bệnh tật bằng thuốc Nam, số người theo về TĐCSPHVN ngày một đông.

TĐCSPHVN trở thành một tôn giáo, và chính quyền thuộc Pháp lúc bấy giờ đã cấp giấy phép số 619 ngày 20-2-1934 để TĐCSPHVN hoạt động (lúc đó chỉ có sáu chữ Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội, chưa có hai chữ Việt Nam). Thời Việt Nam Cộng Hoà xác định tính hợp pháp của Giáo hội bằng Nghị định số 83/MI/DAP ngày 22-12-1953. (Bấy giờ có đủ tám chữ Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam).

Từ khi chính thức ra đời năm 1934, TĐCSPHVN theo tôn chỉ Lục Phương Tông, chủ trương pháp môn niệm Phật và hành Lục Độ (xem thêm nội dung tờ phái trong bài Lược sử truyền giáo của Giáo hội TĐCSPHVN). Đến năm 1950 chính thức lấy tôn chỉ hành đạo là Phước Huệ Song Tu, lấy Pháp môn niệm Phật làm căn bản

Tu Phước là đóng góp công sức, trí tuệ, tài vật để xây dựng, phát triển ngành Y dược dân tộc (Phòng Thuốc Nam phước thiện) để chữa bệnh miễn phí giúp người đời. Đây được xem là phương tiện để tạo cơ hội cho người nghèo khó có cơ duyên đến với Phật pháp.

Tu Huệ là học Kinh–Luật–Luận của Phật đạo để nâng cao trí tuệ, nâng cao sự hiểu biết để đạt tới giải thoát, an vui. Qua tu huệ để giác ngộ trong việc tu phước, phước và huệ nương nhau, thúc đẩy lẫn nhau phát triển trong một con người, từ đó phát triển rộng ra xã hội, nhằm xây dựng một xã hội đoàn kết, thân ái và tương trợ nhau lúc khó khăn cũng như lúc ốm đau.

Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam lấy giáo lý Phật đà làm gốc, song được diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu cho phù hợp với đời sống của đa số người dân lao động ở Nam bộ. Trong giáo lý của Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam có nhiều nội dung, song tập trung ở các quyển kinh, luật, luận căn bản :

LỄ BÁI LỤC PHƯƠNG : Đây là quyển kinh xuyên suốt toàn bộ giáo lý của người tu theo Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam. Nội dung kinh hướng về người cư sĩ tại gia, sống tích cực nhập thế giữa đời thường mà không đánh mất tâm tính bản nhiên thanh tịnh.
PHU THÊ NGÔN LUẬN : Dùng hình thức đối đáp giữa hai vợ chồng nhằm đạt tới sự diễn dịch “ý nghĩa ở ngoài lời nói.” Quyển Luận này nhằm khuyến khích người tu hành từ tư tưởng đến hành động đều phải quả quyết, không thoái chuyển.

ĐẠO ĐỨC : Đây là quyển kinh ghi lại lời thuyết giảng ý nghĩa và phương pháp thực hành đạo đức của Đức Tông Sư Minh-Trí, nội dung chủ trương đạo đức là cái then chốt của văn minh cũng như của khoa học.

GIỚI LUẬT : Thuyết minh quan điểm của người tu Phật, nhất là người cư sĩ tại gia, nêu rõ tính chất nghiêm minh, cẩn trọng mà người cư sĩ tại gia nếu phát tâm thọ trì Bồ tát giới cũng có thể đạt được những thành tựu như người xuất gia.

PHẬT HỌC VẤN ĐÁP : Là bộ Phật học phổ thông bao quát nhiều trình độ, trong đó thuyết minh rõ về Giáo hội Tăng già, vấn đề Tam qui, chơn lý tu học, xác định giá trị cũng như vị trí vững chắc của người cư sĩ tại gia trong Phật đạo.

PHƯƠNG PHÁP KIẾN TÁNH : Quyển sách thể hiện nội dung nâng cao trình độ tu học, trình bày từng giai đoạn của quá trình tu học để đạt được Kiến Tánh. Người Kiến Tánh thì sẽ xa lìa được thiên kiến để thực hành trung đạo. Ví như một nhân tố tích cực, có thể làm cho người đạt tới những lợi ích hữu dụng hơn.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 27:
Giáo Hội Lục Hòa Tăng (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 41)
Thành lập ngày rằm tháng 2, năm Nhâm Thìn (1952). Chủ trì chùa Phật Ấn khởi xướng.
Ngài Thiện Tòng của chùa Trường Thạnh làm chức Đại tăng trưởng. Ngài Thành Đạo chùa Phật Ấn làm Tổng thư ký. Nguyên thuở mới vô chùa Thành Đạo ở chùa Linh Thứu, Xoài Hột, Mỷ Tho. Sau theo học Hòa Thượng Khánh Hòa. Ngài Thành Đạo thế danh là Đước. Hòa thượng Khánh Hòa đặt pháp danh là Thành Đạo, sau lại là trụ trì chùa ở Bàn Đa, Trà Vinh. Sau sư Chơn Huệ trụ trì chùa chùa Linh Thứu hoàn tục thì Ngài về chùa Linh Thứu ở một thời gian. Kế gặp cuộc chiến năm 1945. Ngài giao chùa Linh Thứu (Xoài Hột, Mỷ Tho) lại cho Ni cô Thông Huệ. Ngài lên Sài Gòn cất chùa Phật Ấn ở gần Nha Cảnh sát đô thành.
Từ năm 1963 về sau, Đại lão Hòa Thượng Thích Huệ Thành, Viện chủ Tổ đình Long Thiền đổi danh hiệu Giáo hội Lục Hòa Tăng lại thành Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền, do chính Ngài đương vi chức Tăng Thống lãnh đạo tối cao Giáo Hội.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 28:
Thiền tông (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 42)
Thiền tông (Dhyana) còn có các tên khác là ZEN, ch’an, tên cũ là Thiền na. Thiền là một phương tiện căn bản đã được đạo Phật sử dụng ngay từ khởi thủy. Nhưng cho đến khi thiền sư sơ tổ của môn phái thiền Trung Hoa là Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) du hành sang Trung Hoa (năm 520) và truyền lại thì Thiền tông bắt đầu trở thành một tông phái riêng biệt. Đến đời thứ 6, sư Huệ Năng (Hui-neng) đã đưa Thiền tông dần dà phát triển và nó đã thịnh hành hơn tất cả các tông phái Phật giáo khác ở Trung Hoa. Huệ Năng cũng là người đã hủy bỏ thông tục truyền thừa, nghĩa là không có sư tổ đời thứ 7 của Thiền Tông, thay vào đó là hàng loạt các thiền sư có khả năng mở thành các phái thiền khác dựa theo sự phân biệt về cung cách luyện tập và cách để đưa thiền giả đến chỗ chứng ngộ chân lý. Ngày nay, Thiền tông là một trong những pháp môn đuợc tu tập nhiều nhất ở các nước phương Tây. Theo nhiều nhà phân tích thì Thiền tông là một phân nhánh của Mahayana.
Đặc điểm của Thiền tông:
 Thiền giả sẽ rèn luyện sự tập trung tư tưởng mãnh liệt không để cho phân tán bằng cách áp dụng các cách thức thích hợp (định).
 Một khi tâm ý đã đạt được trạng thái định thì tùy theo căn cơ, thì thiền giả có thể mở tung được sự trói buộc của tâm lý và đạt được trí huệ hay ngộ (satory) thường dưới sự hướng dẫn của một thiền sư.
 Khác với các tông phái khác, Thiền tông đòi hỏi thiền giả phải thực nghiệm với nỗ lực của chính bản thân để chứng và không cần tới lý thuyết hay văn tự (bất lập văn tự).
 Trong thiền thì các kinh nghiệm, các lề lối tư duy logic truyền thống, các chấp trước, các định kiến đều bị phá đổ để giúp hiển lộ sự sáng suốt nội tại sẵn có (Phật tính của vạn vật – Buddha nature).
 Đặc biệt theo quan điểm của Thiền tông, hành giả có thể trực tiếp chứng ngộ chân lý trong đời sống hiện tại gọi là “đốn ngộ”.
 Thiền không có nghĩa là phải ngồi thiền (hay toạ thiền) mà có thể dùng các hình thức để tập trung tâm ý khác. Huệ Năng có nói: “Thiền là tâm tọa” (chứ không phải thân tọa). Đây cũng là một đặc điểm rất uyển chuyển đã biến Thiền tông thành nhiều dạng nghệ thuật khác như trà thiền (hay trà đạo), vườn thiền và tranh vẽ thiền (hay hoạ thiền).
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 29:
Mật tông (1 Tiết)

I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 43)
Mật tông (密宗) là từ gốc Hán dùng để gọi pháp môn bí mật bắt nguồn từ Phật giáo Đại thừa, được hình thành vào khoảng thế kỷ thứ 5, 6 tại Ấn Độ. Có một số ý kiến cho rằng có sự đồng nhất giữa tên gọi Mật Tông với Kim cương thừa . Tuy nhiên, tên gọi Kim Cương Thừa chỉ thấy xuất phát từ Tây Tạng, còn các nguồn kinh điển Hán tạng xưa không đề cập đến tên gọi này. Vấn đề này có thể thấy rõ qua nét khác biệt của hai đường lối tu giữa hai trường phái. Mật Tông xuất phát từ Trung Quốc sử dụng sự kết hợp giáo nghĩa của cả hai Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới, trong khi đó Mật Tông Tây Tạng hiếm khi đề cập đến Thai Tạng Giới và Kinh Đại Nhật.
Mật Tông du nhập vào Trung Quốc vào khoảng thế kỷ thứ 7 và thịnh hành vào thế kỷ thứ 8 với sự xuất hện của ba vị Cao tăng Ấn Độ sang truyền pháp là Thiện Vô Uý (善無畏; 637-735), Kim Cương Trí (金剛智; 663-723) và Bất Không Kim Cương (不空金剛; 705-774). Ba ngài được tôn vinh là Khai Nguyên Tam Đại Sĩ. Thiện Vô Uý, được phong Quốc sư, là người dịch Đại Nhật kinh, kinh căn bản của tông này, ra chữ Hán với sự hỗ trợ của Sư Nhất Hạnh. Dòng truyền thừa vào Trung Quốc xuất phát từ trung tâm Phật học Na Lan Đà. Cả 3 Ngài: Kim Cang Trí, Thiện Vô Úy và Bất Không từng được Sư Long Trí (là đệ của Ngài Long Thọ) truyền pháp.
Pháp môn này truyền vào Tây Tạng muộn hơn Trung Quốc, vào khoảng cuối thế kỷ thứ 8 bởi Đại Sư Liên Hoa Sinh và tại đây Kim cương thừa đã hòa nhập với Phật giáo Đại thừa sẵn có của Tây Tạng và được gọi là Lạt Ma giáo. Ở Tây Tạng, đệ tử chỉ được thu nhận vào Mật tông thông qua một nghi lễ khai ngộ đặc biệt được tiến hành bởi một lạt ma có tên tuổi. Mật tông cũng chủ trương sự tự giác ngộ thông qua việc thiền định và niệm chân ngôn. Dòng truyền thừa vào Tây Tạng xuất phát từ trung tâm Phật học Vikramasila.
Mật tông du nhập vào Nhật Bản vào khoảng cuối thế kỷ thứ 8 đầu thế kỷ thứ 9 bởi Hoằng Pháp Đại Sư Không Hải (空海). Sư đã đi sang Trung Quốc tầm sư học đạo và làm môn đệ của Đại sư Huệ Quả, một môn đệ của Bất Không. Sau khi về nước và lập ra trường phái Chân ngôn tông rất hưng thịnh và là một trong những tông phái quan trọng của nền Phật giáo Nhật Bản.
Các yếu tố quan trọng của Mật tông là phép niệm chân ngôn, phép bắt ấn và sử dụng Mạn-đồ-la cũng như các lần Quán đỉnh (灌頂). Mật tông là giáo pháp mà sư phụ truyền cho học trò bằng lời (khẩu quyết) và đó là lí do mà Mật tông không được truyền bá rộng rãi. Mật Tông tại Trung Quốc rất thịnh hành vào đời Đường, nhưng dần dần thoái trào và về sau này thì tuởng như suy vi hẳn. Thật ra, sau này do nhiều pháp sư lạm dụng sự huyền bí của chơn ngôn nên mật tông dần co cụm lại và truyền thụ cho những nguời có duyên với pháp môn này.
Tại Việt Nam, hiện có khá nhiều đạo tràng tu tập thiền tông khế hợp với mật tông. Có nhiều tác giả dịch thuật những bài kinh thuộc tạng kinh mật giáo như Thích Thiền Tâm, Thích Viên Đức, Thiền sư Nhẫn Tế v.v., ngoài ra còn có những vị tu theo mật pháp như Tịnh Danh Pháp Chủ, Nhật Quang, Phương Nghi Huyền Thạch công, Kim Cang Sư Thích Minh Đức v.v. Những tự viện từng theo pháp tu mật tông như chùa Tây Tạng (Bình Dương), Tịnh viện Hải Triều Âm (Đại Ninh)...
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 30:
Gia đình phật tử (1 Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 44)
Gia Đình Phật Tử là một tổ chức có lý tưởng, truyền thống và mục đích rõ ràng, đã được khai sinh từ thập niên 1940 tại Việt Nam, và là một tổ chức giáo dục tuổi trẻ được tin tưởng và yêu mến của mọi người. Trọng tâm của Gia Đình Phật Tử là xây dựng con người dựa trên căn bản cao quý của Giáo Lý Tỉnh Thức cũng như những tinh hoa và truyền thống cao đẹp của dân tộc. Lý tưởng của tổ chức được thắp sáng và trao truyền giữa thế hệ đàn anh và đàn em. Gia Đình Phật Tử lấy Giáo Lý của Đạo Phật làm căn bản hành hoạt, lấy châm ngôn Bi Trí Dũng làm ngọn đuốc soi đường.
Mục Đích của Gia Đình Phật Tử là đào tạo những Thanh Thiếu Đồng niên trở thành những Phật Tử chân chánh, góp phần xây dựng xã hội theo chân tinh thần Phật Giáo.
Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử được đào tạo:
 Thực hành Đạo Phật để biết sống trong tỉnh thức, an vui, hòa hợp và cảm thông.
 Nâng cao lòng tự tin và tinh thần tự lập
 Hướng dẫn, khuyến khích một đời sống hướng thượng, lành mạnh về tinh thần cũng như thể chất.
 Khả năng lãnh đạo và điều hành, óc sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, biết hy sinh cho tha nhân.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 31:
Bửu sơn kỳ hương (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 45)
Giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương là một tôn giáo nhập thế, một tôn giáo yêu nước có ảnh hưởng lớn đến lịch sử chính trị và tôn giáo tại Nam Kỳ từ giữa thế kỷ 19. Hậu thân của giáo phái này là các giáo phái Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa..
Bửu Sơn Kỳ Hương được khai sáng năm 1849 bởi một người tục danh Đoàn Minh Huyên, sau này dân chúng tôn xưng là Ðức Phật Thầy Tây An.
Người tin theo ông ngày một đông, nên ngay vào năm 1849, ông sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, rồi từ đó cho đến năm 1856, ông đến vùng đất phía tây Thất Sơn và Láng Linh, dựng chùa, lập trại ruộng và đi dạo khắp vùng miền này.
Thời kỳ phổ hóa, hay là thời kỳ phát triển Đạo, có thể chia ra 3 thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất với các ông Phật Thầy Tây An và Phật Trùm. Thời kỳ thứ hai với Đức Bổn Sư và thời kỳ thứ ba với Sư Vãi Bán Khoai và Huỳnh Giáo Chủ. Đó là những ông Đạo mà tín đồ theo đạo tin là do Phật Thầy Tây An chuyển kiếp thêm bốn đời nữa để giáo hóa chúng sinh.
Giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương chủ trương pháp môn Tu Nhân Học Phật giản lược bớt từ cách hành pháp của Phật Giáo. Tuy nhiên, Đức Phật Thầy Tây An thì chủ về vô vi (không câu nệ hình thức, nghi thức), còn Đức Bổn Sư thì trọng về sắc tướng (nghi thức, hình tượng). Ngoài việc tu thân theo đạo Nho để trở nên người quân tử, tín đồ còn được khuyến tu Tứ Ân Hiếu Nghĩa (tức là bốn ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại), đặc biệt biểu dương tinh thần Hiếu hạnh đối với Tổ tiên cha mẹ, và Nghĩa khí đối với quê hương đất nước. Tín đồ còn được hướng dẫn lo làm lành lánh dữ, sửa tâm sửa tánh, siêng năng niệm Phật. Có thể nói tóm lược, Pháp môn tu hành của đạo là một hình thức Thiền - Tịnh song tu và tùy duyên hóa độ theo :
 Trì niệm theo Thiền tông ;
 Xử sự theo Nho giáo.
 Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo.
 Ấn quyết, thần chú theo Mật tông
Bửu Sơn Kỳ Hương rút ra 3 điều quan trọng nhất của Phật giáo truyền thống là: Giới-Định-Tuệ. Giới là những phép tắc phải giữ đối với chính đạo, không cho phạm vào những lỗi lầm xấu và làm những điều ác vô minh. Định: lặng nghĩ, thiền tịnh để quên đi những lạc thú ở đời và diệt trừ ham muốn, tập trung tư tưởng để thấu đạt đạo lý. Tuệ là hiểu thấu vô thường và khổ não chi phối mình, bao nhiêu khổ đau được diệt trừ và thấy được Phật tính
Về phương diện nghi thức thờ phượng, mỗi nhà, ngoài bàn thờ ông bà cha mẹ, còn có ngôi thờ Tam bảo, trên đó chỉ thờ đơn giản một tấm trần điều. Tín đồ không ăn chay, không gõ mõ tụng kinh, không xuống tóc cạo râu. Vật phẩm dâng cúng chỉ hương hoa và nước lã đơn sơ. Chỉ cần giảng và nghe giáo lý, chứ không cần ghi chép. Đơn giản hóa hình thức cúng tế và nghi thức tụng niệm.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 32:
Cư sĩ Lâm (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 46)
Những người Hoa di cư vào Việt Nam từ rất sớm, theo sự truyền tụng từ lâu đời người Hoa vào lập nghiệp từ hai con đường, thứ nhất là đường biển với những con tàu cập bến Hà Tiên rồi đi qua Cà Mau sinh sống, thứ hai là đường bộ từ Đồng Nai, Biên Hòa di cư xuống. Một đặc tính của người Hoa là dù đến bất kỳ nơi đâu, vẫn phát huy và phát huy có tác dụng cho cộng đồng: đó là kết hợp với nhau thành hội đoàn, những Hội đoàn này có thể theo họ hàng hoặc vùng miền nơi cố hương. Chính những cộng đồng có tính bền vững này mà họ đã tương trợ lẫn nhau nơi đất khách quê người, cùng nhau thăng tiến. Ngay tại chính mảnh đất này, những người Hoa đầu tiên cũng họp nhau thành những nhóm, cùng nhau chọn mảnh đất màu mỡ này làm quê hương thứ hai - quê hương mà họ sẽ gắn bó trọn cuộc đời còn lại của mình. Đã là quê hương thì phải có nơi sinh hoạt cộng đồng, nơi làm chốn nương thân cho cõi tâm linh của mình để mơ về một cuộc sống tâm hồn bình ổn hơn.
Minh Nguyệt cư sĩ Lâm - một ngôi chùa theo đạo Phật nhưng thuộc hệ phái cư sĩ - một hệ phái tu tại gia, hệ phái lấy tu tại tâm là chính yếu bởi suy cho cùng, Phật chẳng đâu xa, Phật luôn trú ngụ trong mỗi tâm hồn của chúng ta (Theo kinh Phật).
Minh Nguyệt cư sĩ Lâm còn là nơi sinh hoạt cộng đồng của những người Hoa quanh vùng. Qua bao nhiêu biến cố, Minh Nguyệt cư sĩ Lâm đã được tái tạo một cách nghiêm trang như ngày nay. Minh Nguyệt cư sĩ Lâm ngoài việc thờ phượng chính là Đức Phật Quan Thế âm Bồ Tát - theo truyền thuyết của đạo Phật, một vị Bồ tát luôn xuất hiện giúp đỡ con người trong những cơn nguy khốn của cuộc đời, thì Minh Nguyệt cư sĩ Lâm còn thờ những vị tổ tiên người Hoa xưa kia…
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ

Bài 33:
Hội phật học (1Tiết)
I. ỔN ĐỊNH LỚP
II. KIỂM TRA BÀI CŨ
III. GIẢNG BÀI MỚI (Tiết 47)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự thống nhất này đã trở nên cần thiết kể từ ngày mồng 8 tháng Sáu dương lịch năm nay, là ngày Việt Nam được chính thức làm hội viên hội Phật giáo quốc tế..."
Chùa Xá Lợi trụ sở thứ ba và vĩnh viễn của hội Phật Học Nam Việt được khởi công xây dựng năm 1956 tại số 89 đường Bà Huyện Thanh Quang, Sài Gòn, và được hoàn thành hai năm sau đó. Chùa được kiến trúc một cách mới mẻ, có tháp chuông, chính điện, giảng đường, thư viện và tăng xá. Năm 1963, chùa Xá Lợi biến thành căn cứ trung ương cho cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm, và trở thành một ngôi chùa lịch sử.
Chánh trí Mai Thọ Truyền là một trong những khuôn mặt Phật tử cư sĩ lớn của thời đại. Ông sinh năm 1905 tại làng Long Mỹ tỉnh Bến Tre, và đã học tại các trường trung học Mỹ Tho và Chasseloup Laubat ở Sài Gòn. Ông thi đậu tri huyện năm 1931 và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Năm 1945, sau Cách Mạng Tháng Tám, ông đã làm chủ tịch Ủy Ban Quận Bộ Châu Thành Long Xuyên rồi trưởng phòng hành chính Ủy Ban Hành Chính Tỉnh Bộ Long Xuyên.
Ông về Sài Gòn năm 1947 và lần lượt giữ những chức vụ sau đây: chánh văn phòng phủ Thủ Tướng của chính phủ Nguyễn Văn Xuân (Hà Nội), chánh văn phòng bộ kinh tế, giám đốc hành chính sự vụ bộ Ngoại Giao, đổng lý văn phòng bộ Nội Vụ của chính phủ Nguyễn Nam Long, đổng lý văn phòng Phủ Thủ Hiến Nam Việt và phó đổng lý văn phòng Phủ Thủ Tướng của chính phủ Bửu Lộc. Năm 1955 ông đổi sang ngạch thanh tra hành chính và tài chính và đến năm 1960 về hưu thời chính phủ Ngô Đình Diệm. Sau cách mạng 1963, ông tham dự Hội Đồng Nhân Sĩ trong chính phủ Dương Văn Minh, và đến năm 1967 ông ứng cử phó tổng thống chung liên danh với ông Trần Văn Hương, năm 1968, ông giữ chức quốc vụ khanh kiêm viện trưởng Giám Sát Viện trong chính phủ Trần Văn Hương, rồi đổi sang chức vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa cho đến năm ông mất (1973).
Cũng như cư sĩ Lê Đình Thám, ông ăn chay trường từ ngày thọ tam quy ngũ giới và làm phật sự không biết mệt mỏi. Hội Phật Học Nam Việt đã thành lập được tới 40 tỉnh hội và chi hội khắp miền Nam. Tạp chí Từ Quang của hội mà ông trực tiếp trong nom từ 1951 đã ra được 242 số cho đến ngày ông mất. Những trước tác của ông gồm có:
Tâm Và Tánh (1950)
Ý Nghĩa Niết Bàn (1962)
Một Đời Sống Vị Tha (1962)
Tâm Kinh Việt Giải (1962)
Le Bouddhisme Au Viet Nam (1962)
Pháp Hoa Huyền Nghĩa (1964)
Địa Tạng Mật Nghĩa (1965)
Tác phẩm đầu (Tâm và Tánh) đã được nhà Đuốc Tuệ ở Hà Nội xuất bản; những tác phẩm còn lại đều được Hội Phật Học Nam Việt ấn hành. Ngoài trách vụ hội trưởng hội Phật Học Nam Việt, ông Mai Thọ Truyền đã từng giữ trách vụ tổng thư ký của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo Việt Nam từ 1959 đến năm 1962. Năm 1963 ông giữ trách vụ tổng thư ký của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm. Trách vụ này đã được ông thi hành một cách xuất sắc. Năm 1964 ông được bầu làm phó viện trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, nhưng vì bất đồng ý kiến về hệ thống tổ chức của Giáo Hội, chỉ sau đó một tháng, ông rút lui về cương vị Hội trưởng hội Phật Học Nam Việt.
Trong bản tuyên cáo thành lập hội Phật Học Nam Việt có chủ ý muốn thành lập một Phật học đường lớn để đào tạo tăng tài, nhưng công việc này chưa bao giời được hội thực hiện, có thể đây là vì bên cạnh hội Phật Học Nam Việt đã có Giáo Hội Tăng Già Nam Việt.
Nhưng tạp chí Từ Quang đã là một đóng góp không nhỏ cho công việc phổ biến Phật học ở Sài Gòn và các tỉnh. Tạp chí này đã được chư tăng ở Phật học đường Nam Việt nâng đỡ và đóng góp khá nhiều về phương diện biên tập, nhất là trong những năm đầu.
IV. CỦNG CỐ
V. DẶN DÒ










Tiết 48: Hướng dẫn điền giã (1 Tiết)
Tiết 49: Bài thu hoạch điền giã (1 Tiết)
Tiết 50: Ôn tập (1 Tiết)
Tiết 51: Kiểm Tra (1 Tiết)
Tiết 52: Ôn tập kết thúc môn (2 Tiết 120 phút)
Tiết 53: Thi kết thúc môn (2 Tiết 120 phút)
HT THÍCH GIÁC QUANG &
THẦY HỒ TRƯỜNG GIANG
biên sọan giảng dạy
bắt đầu từ ngày 22/9/2010

thay đổi nội dung bởi: que huong, 05-10-2010 lúc 07:28 AM.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời  


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Mở

Chủ đề giống nhau
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Giới Thiệu Sách Thể Hiện Hạnh Lành que huong LIÊN TÔNG TỊNH ĐỘ NON BỒNG 0 25-05-2010 04:12 PM
Kinh Một Ngàn Danh Hiệu Phật Ở Hiện Tại Hiền Kiếp 123456789 Kinh Bắc Tông 0 20-05-2010 07:40 AM
Sách Trọn Một Niềm Tin que huong LIÊN TÔNG TỊNH ĐỘ NON BỒNG 0 27-04-2010 06:37 AM


Múi giờ GMT. Hiện tại là 11:51 PM.
+ Độ Phân Giải Chuẩn Của Website Site là 1366X768
+ phát triển từ PHP-Nuke, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.
+Mọi hình thức sao chép & Để lại NGUỒN đều được hoan nghênh
+Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng- Quan Âm Tu Viện,K2/77, Đường NAQ.
Khu phố 3, Phường Bửu Hòa, Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai
Liên Hệ qua Mail tranquoctuanls@gmail.com
+ HOTLINE : 0977.374.742 (OR) 0988.18.38.11